Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Giải pháp tăng cường huy vốn tại Công ty XNK Hai Bà Trưng

chính ngắn hạn - tức là ba vấn đề quan trọng đầu tiên của doanh nghiệp, đều gắn
liền tới các hoạt động có liên quan đến vốn. Như vậy rõ ràng, vốn là bộ phận
không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và do đó
việc huy động, đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất có tác động
mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc huy động đủ vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
diễn ra liên tục từ khâu mua sắm vật tư, sản xuất, cho đến tiêu thụ sản phẩm.
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn
tồn tại phải có được các bí quyết, các công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất
lao động, sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, hạ giá thành sản phẩm…
Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp cần phải có vốn để hoạt động và đầu
tư.
Huy động vốn có ý nghĩa quyết định đến quy mô hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là
trong thời đại bùng nổ khoa học và công nghệ như ngày nay thì nhu cầu vốn lại
càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và có xu thế tăng không ngừng. Nó
giúp doanh nghiệp có thể chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế trong cạnh
tranh.
Huy động vốn còn ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động hay việc đa dạng hoá
ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, khi muốn tham gia
kinh doanh vào một lĩnh vực mới nào, doanh nghiệp cũng phải có một lượng
tiền lớn cho việc đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công nghệ, xây dựng hệ
thống phân phối sản phẩm… Nếu không có khả năng tài chính mạnh doanh
nghiệp khó có thể thực hiện được hoạt động này dù là ngay ở những bước đầu
tiên như phân tích thị trường, xây dựng phương án kinh doanh…
Cuối cùng, việc đảm bảo nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp
chống đỡ được những tổn thất, rủi ro trong quá trình hoạt động, đặc biệt là
những lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro như ngân hàng.
5
Như vậy, có thể thấy, huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa đối với quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tiễn nền kinh tế trong những
năm qua cũng cho thấy doanh nghiệp nào có lượng vốn càng lớn thì càng có thế
chủ động trong kinh doanh và có thể thắng được trong cạnh tranh. Ngược lại
doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh, không có chiến lược tài trợ trước mắt
cũng như lâu dài thường đánh mất vai trò của mình trên thị trường, mất bạn
hàng thường xuyên ổn định, không tạo ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong
kinh doanh.
Tuy nhiên, đối với mỗi doanh nghiệp, để có được lượng vốn mong muốn
không phải là điều đơn giản và trong quá trình xây dựng kế hoạch tài trợ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải cân nhắc xem sẽ huy
động vốn từ những nguồn nào, với chi phí tương ứng là bao nhiêu… để có được
cơ cấu vốn hợp lý nhất?
1.2. CÁC PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP
Chúng ta đều đã thấy rằng vốn là điều kiện không thể thiếu đối với một
doanh nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể
như: ngành nghề kinh doanh, quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, trình độ
quản lý, trình độ khoa học kỹ thuật, chiến lược phát triển… mà mỗi doanh
nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện
kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp ngày càng
được đa dạng hoá, giải phóng các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc
đẩy sự hút vốn vào các doanh nghiệp. Sau đây là các nguồn vốn và các phương
thức huy động vốn mà các doanh nghiệp có thể sử dụng.
1.2.1. Nguồn vốn của doanh nghiệp.
Vốn của một doanh nghiệp là cơ sở vật chất cho hoạt động của doanh
nghiệp. Có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một doanh nghiệp trước đối tác
phụ thuộc vào cấu trúc vốn và tư cách pháp lý của doanh nghiệp. Trong đó, cấu
trúc vốn thể hiện tỷ trọng các nguồn vốn huy động trong tổng nguồn vốn của
6
doanh nghiệp. Thông thường vốn, của một doanh nghiệp được hình thành từ các
nguồn sau:
1.2.1.1. Căn cứ vào thời gian luân chuyển: ta có thể phân chia nguồn vốn
của doanh nghiệp thành nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn.
Thông thường những nguồn vốn có thời hạn hoàn trả từ 1 năm trở nên gọi
là nguồn dài hạn còn những nguồn vốn có thời hạn hoàn trả dưới một năm gọi là
nguồn ngắn hạn. Trong nguồn dài hạn người ta còn phân ra nguồn dài hạn với
thời gian hoàn trả từ ba năm trở nên (có nơi tính từ 5 năm) và nguồn trung hạn
(từ 1 năm đến 3 năm). Tuy nhiên tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân
loại thực tế không giống nhau giữa các nước, ngay cả các ngân hàng cũng có thể
phân loại khác nhau.
1.2.1.2. Xét trên góc độ quyền sở hữu đối với các khoản vốn: ta có vốn chủ
sở hữu và nợ.
Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn của chính chủ doanh nghiệp, được hình
thành từ vốn góp ban đầu cho việc thành lập doanh nghiệp và tiến hành các hoạt
động sản xuất kinh doanh, vốn bổ sung trong quá trình kinh doanh (lợi nhuận để
lại, thu từ nhượng bán tài sản…), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của
doanh nghiệp, vốn đầu tư xây dựng cơ bản…
Vốn vay là các nguồn vốn hình thành từ việc đi vay từ ngân hàng thương
mại và các tổ chức tín dụng khác, phát hành trái phiếu, vay doanh nghiệp khác,
sử dụng tín dụng thương mại…
Đây là cách phân loại được sử dụng phổ biến hơn các hình thức khác bởi
nó giúp các doanh nghiệp nắm được tình hình tài chính của mình dựa trên việc
so sánh phần vốn chủ sở hữu với phần được tài trợ từ các chủ nợ, đồng thời xác
định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp trong việc thanh toán nợ vay. Trên cơ sở
đó, chủ doanh nghiệp có thể xác định được cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
trong từng giai đoạn cụ thể.
7
Ngoài ra người ta còn có thể phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp theo
đặc tính thường xuyên (nguồn tài trợ thường xuyên) và tính tạm thời (nguồn tài
trợ tạm thời) song hình thức này không phổ biến bằng hai hình thức trên.
1.2.2. Các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp.
Trên cơ sở các nguồn vốn trên, doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
có thể sử dụng các phương thức huy động chủ yếu sau.
1.2.2.1. Huy động vốn chủ sở hữu.
Khi một doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải
có một lượng vốn nhất định. Đây là nguồn tài trợ có độ an toàn cao nhất đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời nó là tiêu thức để các chủ nợ
thể hiện mức độ tin tưởng và sự đảm bảo an toàn cho các món nợ. Nếu chủ sở
hữu doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong
sản xuất kinh doanh chủ yếu sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Như vậy, nguồn vốn
chủ sở hữu cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ nợ vay
của doanh nghiệp.
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì vốn chủ sở hữu có nguồn gốc
khác nhau:
Đối với doanh nghiệp Nhà nước (Nhà nước là chủ sở hữu) vốn đầu tư ban
đầu là vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước.
Trong doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư ban đầu là vốn của chủ sở hữu
duy nhất của doanh nghiệp bắt buộc phải có khi thành lập doanh nghiệp, gọi là
vốn pháp định. Tùy từng ngành nghề kinh doanh mà Nhà nước quy định một
mức vốn riêng. Chẳng hạn, theo điều 9 khoản 2 Luật doanh nghiệp Tư nhân
(1994) quy định: “ Có đủ vốn đầu tư ban đầu phù hợp với quy mô và ngành
nghề kinh doanh. Vốn đầu tư ban đầu không được thấp hơn vốn pháp định do
Chính phủ quy định ”.
Đối với Công ty cổ phần, nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức
vốn cổ phần, vốn này do những người sáng lập công ty cổ phần phát hành cổ
phiếu để huy động thông qua việc bán những cổ phiếu đó.
8
Đối với doanh nghiệp liên doanh: vốn đầu tư ban đầu được biểu hiện dưới
hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữa các chủ
đầu tư hoặc các doanh nghiệp để hình thành một doanh nghiệp mới.
Bên cạnh nguồn vốn đầu tư ban đầu, doanh nghiệp có thể bổ sung nguồn
vốn của mình bằng một số phương thức sau:
- Huy động nội bộ: Theo phương thức này doanh nghiệp sẽ tăng nguồn vốn
của mình bằng cách trích một phần lợi nhuận thu được trong năm vào quỹ đầu
tư phát triển. Để làm được điều này, trước tiên doanh nghiệp phải làm ăn có lãi.
Sau đó, doanh nghiệp có thể giảm tỷ lệ trích lập các quỹ dự phòng, quỹ khen
thưởng, quỹ phúc lợi hoặc thay đổi chính sách phân chia lợi nhuận cho các cổ
đông (đối với công ty cổ phần). Đây là một phương thức huy động vốn quan
trọng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thực hiện có đạt hiệu quả hay không
còn phụ thuộc vào lợi nhuận thu được và hiệu qủa của việc tái đầu tư.
- Phát hành thêm cổ phiếu mới (đối với công ty cổ phần): là một phương
thức huy động có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhằm đáp
ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh của công ty cổ phần. Cổ phiếu là chứng khoán
vốn và người nắm giữ cổ phiếu chính là người sở hữu công ty. Tuỳ theo đặc
điểm riêng mà các công ty có thể lựa chọn phát hành một trong hai hoặc cả hai
loại cổ phiếu cơ bản sau:
* Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì đặc điểm của nó
đáp ứng được cả hai phía là người đầu tư và phía công ty phát hành. Phần lợi tức
mà cổ đông nhận được từ việc sở hữu loại cổ phiếu này phụ thuộc vào kết quả
kinh doanh của công ty trong từng năm. Các cổ đông có quyền tham gia vào
kiểm soát và điều khiển mọi hoạt động của công ty thông qua việc bỏ phiếu hoặc
chỉ định thành viên ban quản trị. Tuy nhiên, huy động vốn theo phương thức này
phải xét đến nguy cơ bị thôn tính. Do đó, phải xét đến tỷ lệ cố phần tối thiểu mà
mỗi cổ đông được phép nắm giữ để duy trì tỷ lệ cân đối về sở hữu công ty.
* Cổ phiếu ưu tiên: là loại cổ phiếu thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ
trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Cổ phiếu ưu tiên khác với cổ phiếu
9
thường ở chỗ người chủ cổ phiếu này được hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định và
được thanh toán lãi trước các cổ đông thường. Tuy nhiên, những cổ đông này lại
không có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.
Số lượng cổ phiếu phát hành thêm được xác định không chỉ dựa trên nhu
cầu vốn bổ sung của công ty mà còn phụ thuộc vào số cổ phiếu tối đa công ty
được phép phát hành và số cổ phiếu đã phát hành trên thị trường. Bên cạnh đó
còn phải xem xét các nhân tố khác đặc biệt là “nhiệt độ” trên thị trường chứng
khoán.
1.2.2.2. Huy động vốn từ Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác.
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào có thể
hoạt động mà không vay vốn ngân hàng. Việc huy động vốn bằng hình thức này
giúp doanh nghiệp tăng khả năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng
và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện linh hoạt trong việc
thu hẹp quy mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ khi đến hạn và
giảm số lượng vốn vay.
Doanh nghiệp có thể vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để đáp
ứng cho nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, song phải đáp
ứng được những yêu cầu nhất định của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
như phải có phương án kinh doanh khả thi, phải là đơn vị hạch toán độc lập…
và các yêu cầu về tài sản thế chấp, cầm cố… Trên cơ sở các điều kiện xin vay
được thực hiện đầy đủ, ngân hàng sẽ cấp vốn cho doanh nghiệp dưới các hình
thức chủ yếu sau:
- Tín dụng hạn mức là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó doanh nghiệp được phép sử dụng dư nợ trong một giới
hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai. Chỉ khi nào doanh nghiệp sử
dụng mới được coi là tín dụng cấp phát và mới được tính lãi.
- Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn, trong đó doanh
nghiệp chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng
10
để nhận một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa
hồng phí. Doanh nghiệp sử dụng hình thức vay vốn này khi có nhu cầu tiền ngay
mà không phải đợi đến ngày đáo hạn của thương phiếu. Tuy nhiên việc vay
được có thuận lợi hay không còn phụ thuộc vào chất lượng của thương phiếu
nên phương thức này không phải lúc nào cũng hiệu quả.
- Factoring mua nợ (Bao thuê) là một dịch vụ do công ty con của ngân
hàng thực hiện, là nghiệp vụ đi mua lại các yêu cầu chi trả của doanh nghiệp để
rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó. Thông thường các yêu cầu chi
trả ở đây là ngắn hạn. Các công ty mua nợ sẽ chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi,
thu hồi và chịu rủi ro về các khoản chi trả của các yêu cầu chi trả đó.
Ngoài các hình thức trên, ngân hàng còn cấp vốn cho doanh nghiệp theo
các hình thức khác như: tín dụng ứng trước, tín dụng bằng chữ ký…
Riêng trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, ngân hàng thực hiện tài trợ cho các
doanh nghiệp thông qua các hình thức tín dụng xuất nhập khẩu sau:
- Tài trợ vốn lưu động để thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu theo
đúng L/C quy định, hợp đồng ngoại thương đã ký kết, đơn đặt hàng. Hình thức
này được tiến hành trước khi giao hàng, thông thường được áp dụng trong
trường hợp Ngân hàng tài trợ vừa là Ngân hàng thanh toán cho L/C xuất. Nhà
xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ và được thanh toán tại ngân hàng. Để giám sát
và kiểm tra chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích, thông thường
Ngân hàng yêu cầu nhà xuất khẩu phải có một số vốn nhất định cộng thêm với
số tiền vay ngân hàng, để thu mua hàng hoá, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu.
Hàng hoá sẽ làm tài sản đảm bảo để tiếp tục vay và được nhập tại kho ngân
hàng, hoặc nhập kho mà trước đó ngân hàng và nhà xuất khẩu thoả thuận và
đồng ý dưới sự giám sát của ngân hàng, muốn xuất hàng ra khỏi kho phải có sự
đồng ý của ngân hàng.
- Tài trợ vốn trong thanh toán hàng xuất khẩu. Từ lúc giao hàng, nộp bộ
chứng từ vào ngân hàng thông báo L/C cho đến khi được ghi có trên tài khoản
phải trải qua một khoảng thời gian nhất định để xử lý và luân chuyển chứng từ.
11
Nhà xuất khẩu cần tiền có thể thương lượng bộ chứng từ để chiết khấu hoặc ứng
trước tiền tại nhân hàng đã được chỉ định rõ trong L/C hoặc ở bất kỳ ngân hàng
nào Có hai hình thức chiết khấu là chiết khấu truy đòi (ngân hàng sau khi thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu có quyền truy đòi nếu bộ chứng từ không được
thanh toán) và chiết khấu miễn truy đòi (ngân hàng sau khi thanh toán tiền cho
nhà xuất khẩu không có quyền truy đòi nếu bộ chứng từ không được thanh
toán). Trường hợp bộ chứng từ không hội đủ những điều kiện chiết khấu thì nhà
xuất khẩu có thể yêu cầu ngân hàng ứng trước tiền hàng, khoảng 50%-60% giá
trị hàng xuất. Hình thức tài trợ này được tiến hành sau khi giao hàng.
- Hình thức mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu. Hình thức này thể hiện sự
tài trợ của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu. Trong hình thức này các nhà
nhập khẩu phải ký quỹ. Mức ký quỹ sẽ do ngân hàng quyết định trên cơ sở thẩm
định các điều kiện về tài chính của doanh nghiệp, tư cách pháp nhân của mặt
hàng nhập khẩu, tài sản thế chấp….
- Cho vay thanh toán bộ chứng từ nhập. Đối với nhà nhập khẩu khi hàng
vừa cập bến phải nộp tiền cho ngân hàng để thanh toán cho nhà xuất khẩu, thì
mới nhận được chứng từ để nhận hàng, bán hàng và thu hồi vốn. Đó là khoảng
thời gian khá dài, do đó nhà nhập khẩu cần có sự tài trợ từ ngân hàng. Căn cứ
vào các yếu tố như đảm bảo tín dụng, mức tài trợ, khả năng thu hồi nợ đúng
hạn… ngân hàng sẽ quyết định tỷ lệ tài trợ cho lô hàng nhập. Ví dụ như nếu ký
quỹ trị giá 20% giá trị lô hàng thì ngân hàng chấp thuận tài trợ 60%, lúc này nhà
nhập khẩu phải đóng thêm 20% giá trị lô hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn cấp vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
thông qua các hình thức bảo lãnh và tái bảo lãnh như: bảo lãnh vay vốn bằng
cách phát hành thư bảo lãnh, bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm…
Nói chung, hiện nay, các hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp được các
ngân hàng sử dụng ngày càng phong phú nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp
có đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nguồn vốn vay ngân
hàng có đặc điểm là tương đối nhỏ, thời gian ngắn, thủ tục phức tạp, điều kiện
12
vay chặt chẽ… nên vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn vay vốn. Do
đó thông thường khi thiếu vốn các doanh nghiệp thường nghĩ đến nguồn vốn tự
có trước khi nghĩ đến ngân hàng.
1.2.2.3. Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu công ty.
Như đã nói ở trên, nguồn vốn vay ngân hàng mặc dù rất linh hoạt song chỉ
đáp ứng nhu cầu kinh doanh trong ngắn hạn. Để khắc phục nhược điểm này
doanh nghiệp có thể sử dụng phương thức huy động vốn bằng cách phát hành
trái phiếu công ty.
Trái phiếu công ty là công cụ nợ dài hạn được một doanh nghiệp phát hành
để huy động vốn của các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục vụ nhu
cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Thời hạn của trái phiếu công
ty được xác định từ ngày phát hành đến ngày thanh toán lại cho người mua. Khi
huy động vốn bằng phương thức này, doanh ngiệp phải chịu trách nhiệm về số
vốn đã được huy động như một khoản nợ và phải trả lãi vay theo một tỷ lệ nhất
định.
Phương thức huy động vốn này chỉ đạt được hiệu quả khi doanh nghiệp lựa
chọn được loại hình trái phiếu phù hợp. Do đó, trước khi quyết định phát hành,
doanh nghiệp phải căn cứ vào khả năng tài chính của mình, tình hình cụ thể của
thị trường tài chính, cũng như cách thức trả lãi, chi phí trả lãi, khả năng lưu hành
và tính hấp dẫn của trái phiếu đó. Nói chung, doanh nghiệp có thể lựa chọn một
trong những loại trái phiếu khác nhau dưới đây:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu được sử dụng phổ
biến nhất trong các loại trái phiếu công ty. Lãi suất của trái phiếu được xác định
ngay khi phát hành trái phiếu và có giá trị thực hiện cho đến khi tới hạn thanh
toán. Việc xác định lãi suất trái phiếu được đặt ra trong mối tương quan so sánh
với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt là phải tính đến sự cạnh tranh với các
trái phiếu của các công ty khác.
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi: loại trái phiếu này có lãi suất biến động
theo sự biến động của thị trường vốn. Trong điều kiện nền kinh tế có mức lạm
13
phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định thì các doanh nghiệp có thể
khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này. Tuy nhiên vệc quản lý loại trái
phiếu này gặp một số khó khăn do công ty không thể biết chắc chắn về chi phí
lãi vay và phải tốn thời gian cho việc thông báo các lần điều chỉnh lãi suất.
- Trái phiếu có thể thu hồi: loại trái phiếu này cho phép công ty có thể đIều
chỉnh lượng vốn sử dụng bằng cách mua lại các trái phiếu đã phát hành vào một
thời gian nào đó trước ngày đáo hạn của trái phiếu. Loại trái phiếu này phải
được quy định công khai ngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết.
Thời hạn và giá cả khi chuộc lại cũng phải được quy định rõ ngay từ lúc phát
hành. Thông thường, người ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái phiếu sẽ không
bị thu hồi, ví dụ trong thời gian 36 tháng.
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành
một lượng nhất định các cổ phiếu thường. Việc huy động vốn bằng hình thức
này có ưu điểm là công ty có thể gắn bó người mua trái phiếu một cách lâu dài
và đến một thời gian thích hợp họ có thể mua cổ phiếu để trở thành cổ đông của
công ty. Hơn nữa, do hấp dẫn hơn, hình thức này có thể huy động được nguồn
vốn có chi phí thấp hơn các hình thức khác đồng thời đa dạng hoá các công cụ
huy động vốn.
Ngoài các trái phiếu chủ yếu trên, công ty còn có thể lựa chọn một số loại
khác như trái phiếu có bảo đảm (là trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản của
công ty) hoặc trái phiếu không có bảo đảm (là loại trái phiếu không được bảo
đảm bằng một loại tài sản cụ thể nào)…
Nói chung, huy động vốn cách phát hành trái phiếu công ty có ưu điểm là
tiết kiệm được chi phí đầu tư; kiềm chế được lạm phát (do không làm tăng lượng
tiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn lượng tiền sẵn
có trong lưu thông); chủ động khai thác trực tiếp nguồn vốn có sẵn và tiềm năng
của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Nếu tận dụng được những ưu điểm
này thì đây sẽ là phương thức tối ưu và khả thi cho giải pháp về vốn dài hạn của
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét