Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Một số giải phấp nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý ở Cty CPTM và dịch vụ Nhật Lâm

Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Từ định nghĩa về quản lý, có thể dễ dàng suy ra đợc khái niệm về quản lý
doanh nghiệp: Quản lý doanh nghiệp là quá trình tác động một cách có hệ
thống, có tổ chức, có hớng đích của ngời đại diện doanh nghiệp lên tập thể
những ngời lao động trong doanh nghiệp, nhằm sử dụng mọi tiềm năng và cơ
hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lê
xã hội .
.
1.1.2 :Sự cần thiết phải có hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động thực tiễn của con ngời đ-
ợc biểu hiện thành hai mặt tự nhiên và xã hội. Trong quá trình tác động vào tự
nhiên, từng hành động đơn lẻ của con ngời thờng chỉ mang lại những kết quả
hạn chế. Để cải tạo và chinh phục tự nhiên, tất yếu đòi hỏi con ngời phải liên
kết lại với nhau cùng hành động. Những tác động tơng hợp của nhiều ngời vào
cùng đối tợng tự nhiên thờng mang lại những kết quả cộng hởng và có tính
tổng hợp.
Các Mác đã từng phân tích, mỗi con ngời riêng lẻ chỉ đơn độc tác động
vào tự nhiên. Không thể có huy vọng thoát khỏi sự ràng buộc và lệ thuộc vào
tự nhiên. Chỉ có thể chế ngự đợc tự nhiên khi ngời ta biết kết hợp các hành
động đơn lẻ lại với nhau để cùng hớng theo một ý đồ thống nhất.
Ngời quan hệ với tự nhiên, con ngời thờng xuyên tác động lẫn nhau, sự
tác động này diễn ra theo nhiều chiều và rất đa dạng. Quá trình tác động lẫn
nhau buộc ngời ta phải liên kết với nhau cùng hành động vì một mục tiêu
chung và bảo đảm lợi ích chung của mỗi ngời.
Sự thoả hiệp lợi ích cả theo nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực là động cơ
gắn kết hành động của con ngời lại với nhau.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T25
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là một trong những tính quy định khi xem xét bản chất hoạt động
thực tiễn của con ngời trong xã hội. Chính vì vậy, Các Mác đã nói Xét về bản
chất, con ngời là tổng hoà các mối quan hệ. Hành động của mỗi con ngời
không chỉ là kết quả chủ quan của mỗi ngời mà nó còn là kết quả tổng hợp
của các quan hệ xã hội.
Nh vậy, xét cả về mặt tự nhiên cũng nh xã hội của hoạt động sản xuất, sự
liên kết phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau trong quá trình hoạt động của con
ngời là một đòi hỏi cần thiết để hoạt động có hiệu quả.
Quá trình liên kết hoạt động thực tiễn của con nguời làm cho hoạt động
của họ mang tính tổ chức. Có thể hiểu tổ chức là một tập hợp mà trong đó mỗi
hành động của con ngời phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định, chịu
sự chi phối ràng buộc có tính quy ớc nhất định.
Do đó sự xuất hiện của các tổ chức nh là một đòi hỏi tất yếu trong đời
sống xã hội loài ngời. Đặc biệt trong hoạt động sản xuất, do tính chất phức tạp
và đa dạng trong các quan hệ con ngời với tự nhiên, giữa ngời với ngời, tính tổ
chức và sự xuất hiện tổ chức trong hoạt động này càng đặc biệt quan trọng.
Sự ra đời của các hình thức tổ chức trong hoạt động sản xuất là một đòi
hỏi tất yếu khách quan. Song sự xuất hiện các hình thức tổ chức bao giờ cũng
gắn với một chức năng nhất định, nhằm vào một mục tiêu nhất định.
Tất nhiên, thực tế tổ chức chỉ có thể phát huy thực tế sức mạnh của
nó trên cơ sở có sự quản lý điều hành thống nhất. Vì vậy, sự hợp
tác của những lao động có ý thức tất yếu đòi hỏi phải có sự điều
khiển, giống nh một giàn nhạc phải có nhạc trởng. Tính tất yếu
của quản lý đ ợc bắt nguồn từ chính ý nghĩa đó .
Thực chất của quản lý doanh nghiệp là quản lý con ngời yếu tố cơ bản
của lực lợng sản xuất trong quá trình sử dụng t liệu lao động tác động lên
đối tợng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Quản lý chỉ có thể đạt
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T26
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
hiệu quả cao khi con ngời giỏi nghề nào đợc làm nghề đó, đợc tạo điều kiện để
phát huy đầy đủ tính chủ động sáng tạo trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Khi quy mô sản xuất càng mở rộng, trình độ khoa học kỹ thuật phát triển
ngày càng cao, thì công tác quản lý càng phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý
phải không ngừng đợc nâng cao cả về năng lực và trình độ.
1.2 :Nội dung tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
Quản lý là hoạt động phức tạp nhiều mặt của con ngời. Quản lý chỉ đợc
thực hiện trong một hệ thống quản lý cụ thể. Hệ thống quản lý, đó chính là bộ
máy quản lý. Bộ máy quản lý là tổng hợp các bộ phận (đơn vị, cá nhân) khác
nhau có mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đợc chuyên môn hoá và
có những trách nhiệm quyền hạn nhất định, đợc bố trí theo những cấp, những
khâu khác nhau, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ
mục đích chung xác định của hệ thống. Bộ máy quản lý là hình thức phân
công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý, có tác động trực tiếp đến quá trình hoạt
động của hệ thống. Bộ máy quản lý, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của
mỗi bộ phận, mỗi ngời trong hệ thống quản lý, mặt khác nó có tác động tích
cực trở lại đến việc phát triển của toàn hệ thống quản lý.
Hệ thống bị quản lý là đối tợng mà sự tác độngcủa bộ máy quản lý hớng
vào nhằm mục đích tăng thêm cho nó những hình thức cụ thể, chỉ đạo hoạt
động của nó để đạt đợc kết quả định trớc. Giữa hệ thống quản lý và hệ thống
bị quản lý có mối quan hệ qua lại rất chặt chẽ. Hệ thống bị quản lý không chịu
sự tác động có hớng đích của hệ thống quản lý mà nó còn phát triển theo quy
luật vốn có của nó. Do đó hệ thống quản lý phải đợc tổ chức cho phù hợp với
đối tợng quản lý mà nó phụ trách, điều hành.
Tổ chức bộ máy quản lý là quá trình xác định các chức năng, các bộ phận
tạo thành một bộ máy quản lý nhằm thực hiện đợc các chức năng quản lý.
1.2.1 :Các chức năng và lĩnh vực trong quản lý doanh nghiệp.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T27
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều nội dung và nhiều cách tiếp cận
khác nhau, do vậy phải phân chia, quy nạp vấn đề quản lý thành những khái
niệm nhất định để có đợc tiếng nói chung. Căn cứ vào quá trình quản lý, ngời
ta phân chia vấn đề quản lý doanh nghiệp thành các chức năng quản lý. Căn
cứ vào các nội dung quản lý, ngời ta phân chia vấn đề quản lý doanh nghiệp
thành các lĩnh vực quản lý.
Chức năng quản lý (phân loại chức năng quản lý theo quá trình quản lý):
Chức năng quản lý là những hoạt động riêng biệt của quản trị, thể hiện những
phơng hớng tác động của quản trị gia đến các lĩnh vực quản trị doanh nghiệp.
Lĩnh vực quản lý (phân loại chức năng quản lý theo nội dung quản lý):
Lĩnh vực quản lý đợc hiểu nh các hoạt động quản trị khi nó đợc thiết lập và sắp
xếp theo nội dung quản lý gắn liền với các bộ phận của doanh nghiệp, có ngời
chỉ huy và đợc phân cấp phân quyền trong việc ra các quyết định quản lý.
Nếu các chức năng quản lý là các hoạt động trong một quá trình quản lý
thì các lĩnh vực quản lý là các tổ chức để thực hiện các hoạt động kinh doanh
cụ thể gắn với quá trình kinh doanh của từng doanh nghiệp.
1.2.1.1 :Các chức năng quản lý.
Khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và tiến bộ của
phân công hợp tác lao động trong một quá trình sản xuất của một tập thể
ngời lao động.
Hoạt động quản trị đã ra đời từ khi nền sản xuất là thủ công cá thể. Nhng
ngay cả đến khi con ngời đã tổ chức các nhà máy khổng lồ, đạt đợc các tiến bộ
to lớn về kỹ thuật nh chế tạo đầu máy xe lửa, sử dụng điện năng thì khoa
học quản lý vẫn cha đợc quan tâm. Phải đến đầu thế kỷ 20, những nghiên cứu
về khoa học quản lý mới đa ra đợc một cách có hệ thống cách phân loại các
chức năng quản trị. Bản thân các cách phân loại của các nhà khoa học hàng
đầu theo thời gian cũng khác nhau và họ đa ra nhiều đề xuất về nội dung và
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T28
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
phân loại các chức năng quản lý. Ngời đầu tiên cũng nh thành công nhất trong
lĩnh vực này là Henry Fayol. Trong cuốn sách quản trị công nghiệp và tổng
quát viết năm 1916, Fayol chia quá trình quản trị của doanh nghiệp thành 5
chức năng và đợc mệnh danh là những yếu tố Fayol. Đó là:
Chức năng dự kiến (hoạch định): Thờng đợc coi là chức năng đầu tiên
trong tiến trình quản trị. Đó là việc dự đoán trớc có cơ sở khoa học, sự phát
triển có thể xảy ra của các quá trình, các hiện tợng, xây dựng thành chơng
trình hành động (một kế hoạch nhất định) nhằm xác định rõ: sản xuất cái gì?
sản xuất bằng cách nào? bán cho ai? với nguồn tài chính nào? Nh vậy hoạch
định là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành
trong tơng lai và quyết định cách thức để đạt đợc mục tiêu đó.
Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình tạo ra một cơ cấu các mối
quan hệ giữa các thành viên, thông qua đó cho phép họ thực hiện các kế hoạch
và hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Chức năng này bao gồm việc thiết lập
một cấu trúc của tổ chức, trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của doanh
nghiệp nh vốn, máy móc, thiết bị, lao động, nguyên vật liệu, kết hợp, liên
kết các yếu tố sản xuất, các bộ phận riêng rẽ trong doanh nghiệp với nhau
thành một hệ thống. Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các
nhà quản trị có thể phối hợp tốt hơn các nguồn lực.
Chức năng phối hợp: Chức năng này giúp cho tất cả các hoạt động của
doanh nghiệp đợc nhịp nhàng, ăn khớp, đồng điệu với nhau nhằm tạo ra sự
thuận tiện và hiệu quả.
Chức năng chỉ huy: Sau khi đã hoạch định, tạo ra một tổ chức và phối
hợp các hoạt động, các nhà quản trị phải chỉ huy lãnh đạo tổ chức. Đó là việc
đa ra và truyền đạt các chỉ thị, truyền đạt thông tin đến cho mọi ngời để họ
hoàn thành những nhiệm vụ cần thiết, biến khả năng thành hiện thực.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T29
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi
cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lờng các sai
lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu và kế hoạch đã
định.
Hoạch định hớng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các
mục tiêu, còn kiểm tra xác định xem chúng hoạt động có phù hợp với mục tiêu
và kế hoạch hay không.
Mục đích của kiểm tra nhằm bảo dảm các kế hoạch thành công, phát
hiện kịp thời những sai sót, tìm ra những nguyên nhân và biện pháp sửa chữa
kịp thời những sai sót đó, bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ta
nhịp nhàng, liên tục và hiệu quả.
Kiểm tra là tai mắt của quản lý. Vì vậy cần tiến hành thờng xuyên và
kết hợp linh hoạt nhiều hình thức kiểm tra.
Ngoài Henry Fayol còn có các chuyên gia khác nhau đa ra những hệ
thống các chức năng khác nhau. Theo các tác giả tại trờng Đảng cao cấp Liên
Xô (cũ) thì có 6 chức năng: soạn thảo mục tiêu, kế hoạch hoá, tổ chức, phối
hợp, động viên, kiểm tra. Theo tài liệu huấn luyện cán bộ quản lý của
UNESCO ngời ta nêu lên 8 chức năng: xác định nhu cầu, thẩm định và phân
tích dữ liệu, xác định mục tiêu, kế hoạch hoá , triển khai công việc, điều
chỉnh, đánh giá, sử dụng liên hệ ngợc và tái xác định các vấn đề cho quá trình
quản lý tiếp theo.
ở nớc ta, trong các quá trình quản lý, ngời ta đã sử dụng các hệ thống
phân loại các chức năng quản lý nêu trên. Có thể khái quát lại thành một số
chức năng cơ bản sau: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.
Tất cả các chức năng quản lý trên tác động qua lại với nhau và quy định
lẫn nhau. Sự phân loại một cách khoa học các chức năng quản lý cho phép
thực hiện đợc ở phạm vi rộng, sự phân công lao động một cách hợp lý dựa vào
việc chia nhỏ quá trình quản lý thành những hành động, thao tác quản lý. Sự
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T210
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
phân loại nh thế còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá và thống nhất hoá các quá
trình quản lý, tạo điều kiện áp dụng những kinh nghiệm tiên tiến trong lao
động quản lý, tạo điều kiện để đa các phơng tiện kỹ thuật hiện đại vào thực
tiễn quản lý.
Ngoài ra,giáo trình quản trị học còn đa ra cách phân loại khác,theo đó
thì có 4 chức năng chủ yếu :
_Chức năng lập kế hoạch
_Chức năng tổ chức.
_Chức năng lãnh đạo.
_Chức năng kiểm tra.
1.2.1.2 : Lĩnh vực quản lý.
Đây là sự phân loại chức năng quản lý theo nội dung quản lý. Lĩnh vực
quản lý trong doanh nghiệp đợc hiểu nh các hoạt động quản lý khi đợc sắp xếp
trong một bộ phận nào đó. ở các bộ phận này có ngời chỉ huy và liên quan đến
việc ra các quyết định quản trị.
Lĩnh vực quản lý đợc phân định phụ thuộc vào nhiều yếu tố: truyền
thống quản trị, các yếu tố xã hội và cơ chế kinh tế, quy mô cũng nh đặc điểm
kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp. Nó gắn liền với mỗi quốc gia, mỗi vùng
cụ thể và sự tiến bộ về nhận thức khoa học quản lý.
Có thể nói lĩnh vực quản lý chính là sự phân chia chức năng quản lý
theo nội dung tác động.
Về cơ bản, các lĩnh vực quản lý trong doanh nghiệp gồm:
* Lĩnh vực vật t: Nhiệm vụ của cung ứng vật t là bảo đảm cung cấp đầy
đủ và đồng bộ về số lợng, chủng loại, đúng chất lợng, đúng kỳ hạn, đúng địa
điểm với chi phí ít nhất. Nội dung công việc cung ứng vật t bao gồm: Phát hiện
nhu cầu vật t, tổ chức mua sắm vật t, tổ chức cung cấp vật t, tổ chức dự trữ và
bảo quan vật t.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T211
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
Ngời ta thờng sử dụng phơng pháp quy hoạch tuyến tính, phơng pháp
dựa trên lý thuyết về dự trữ, phơng pháp PERT, hay kiểu cung ứng đúng kỳ
hạn của Nhật để điều khiển côngviệc cung ứng vật t.
* Lĩnh vực sản xuất: Sản xuất là việc sử dụng con ngời lao động để tác
động lên yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vật chất, tài chính, thông tin)
để làm ra các sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trờng. Bao
gồm toàn bộ các hoạt động có tính chất công nghiệp trên cơ sở phối hợp các
yếu tố lao động, t liệu lao động và đối tợng lao động đã có thể chế biến các
sản phẩm hàng hoá và thực hiện các dịch vụ. Cụ thể nh: Nghiên cứu thiết kế
loại sản phẩm định sản xuất (căn cứ vào nhu cầu của thị trờng) về các mặt
nguyên lý cấu tạo, giải pháp cấu tạo, tính năng kỹ thuật, chất lợng sử dụng. Để
nghiên cứu ở bớc này, cần nắm vững khái niệm chu kỳ sống (vòng đời) của
sản phẩm; Lựa chọn công nghệ sáng tạo sản phẩm; Lựa chọn loại hình sản xuất
bao gồm các loại sau: sản xuất đơn chiếc (theo đơn đặt hàng), sản xuất hàng loạt,
sản xuất theo dây chuyền liên tục; Tổ chức lao động và bộ máy quản lý: Tổ
chức kiểm tra sản xuất và kiểm tra chất lợng, tổ chức cung ứng và dự trữ cho
dây chuyền sản xuất, điều hành quá trình sản xuất theo thiết kế và quy trình đã
định.
Nhiệm vụ: hoạch định chơng trình; xây dựng kế hoạch sản xuất; điều
khiển quá trình chế biến; kiểm tra chất lợng; giữ gìn bản quyền, bí quyết, kiểu
dáng và phát huy sáng chế phát minh của mọi thành viên.
* Lĩnh vực marketing: gồm các nhiệm vụ nh : Thu thập các thông tin về
thị trờng, hoạch định chính sách sản phẩm, hoạch định chính sách giá cả,
hoạch định chính sách phân phối, hoạch định chính sách hỗ trợ tiêu thụ.
* Lĩnh vực nhân sự: bao gồm các nhiệm vụ sau: Lập kế hoạch nhân sự,
tuyển dụng nhân sự, bố trí nhân sự, đánh giá nhân sự, phát triển nhân viên
(đào tạo, bồi dỡng, đề bạt), thù lao, quản lý nhân sự thông qua hồ sơ dữ liệu
nhân sự, qua thống kê hoạt động của nhân viên, và hỗ trợ đời sống.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T212
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
* Lĩnh vực kỹ thuật: bao gồm tất cả những công việc liên quan đến chuẩn
bị kỹ thuật cho sản xuất, chuyển giao công nghệ, quản lý quy phạm, quy trình
kỹ thuật, tham gia và trực tiếp xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý máy móc,
thiết bị, nghiên cứu phát triển kỹ thuật, ứng dụng phơng pháp công nghệ mới,
thiết kế sản phẩm mới, đề ra chiến lợc công nghệ, xây dựng các định mức tiêu
hao thiết bị, năng lợng, vật t,
* Lĩnh vực tài chính kế toán:
Lĩnh vực tài chính gồm các nội dung sau: tạo vốn, sử dụng vốn, quản lý
vốn (chủ yếu là quản lý sự lu thông, thanh toán và các quan hệ tín dụng).
Lính vực kế toán gồm các nội dung: kế toán sổ sách, tính toán chi phí
kết quả, xây dựng các bảng cân đối, tính toán lỗ lãi, thẩm định kế hoạch,
thống kê, kiểm tra việc tính toán, bảo hiểm, thuế.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T213
Trờng Đại học Công Đoàn Chuyên đề tốt nghiệp
* Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển:
Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển gồm các nhiệm vụ sau: thực hiện các
nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, đa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
ứng dụng và thẩm định hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật đợc áp dụng.
* Lĩnh vực tổ chức và thông tin:
Gồm các nhiệm vụ sau:
- Lĩnh vực tổ chức: Tổ chức các dự án, phát triển và cải tiến bộ máy tổ
chức cho doanh nghiệp, tổ chức tiến trình hoạt động toàn bộ doanh nghiệp.
- Lĩnh vực thông tin: Xây dựng kế hoạch về các thông tin liên quan cho
doanh nghệp, chọn lọc và xử lý các thông tin, kiểm tra thông tin và giám sát
thông tin.
* Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vụ chung:
Bao gồm: thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh
nghiệp, tổ chức các hoạt động quần chúng trong doanh nghiệp, các hoạt động
hành chính và phúc lợi doanh nghiệp.
Sự phân chia trên đây chỉ mang tính khái quát, trên thực tế quản trị, các
lĩnh vực đợc tiếp tục chia nhỏ nữa cho đến các công việc, nhiệm vụ quản trị cụ
thể; mặt khác có bao nhiêu lĩnh vực quản trị còn phụ thuộc vào đặc điểm kinh
tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp.
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa phân loại theo chức năng và theo các lĩnh vực
quản trị.
- Mục đích của sự phân loại theo chức năng là bảo đảm quán triệt các
yêu cầu của khoa học quản trị, nó đảm bảo cho bất kỳ một hoạt động
quản trị nào cũngđều đợc tiến hành theo một trình tự chặt chẽ. Đó là
cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình quản trị tại một doanh nghiệp để
từ đó tìm cách tháo gỡ. Thực chất của việc phân loại theo chức năng là
sự quán triệt những nguyên lý của khoa học quản lý vào quản lý
doanh nghiệp.
Lơng Thúy Dơng Lớp Q13T214

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét