thành sản phẩm. Người sử dụng lao động phân phối thu nhập cho các yếu
tố chi phí không đủ đảm bảo bù đắp lại các chi phí mà còn phải tính đến
hiệu quả do các yếu tố đó mang lại.
Tiền lương là một công cụ để người quản lý thực hiện quản lý con
người, sử dụng lao động có hiệu quả.
Tiền lương là yếu tố kích thích xúc tiến sự phát triển kinh tế. Tiền
lương là động cơ hoạt động của người lao động được người quản lý dùng
để điều khiển người lao động hoạt động đúng hướng.
Nhằm mục đích kết hợp hài hoà ba lợi ích: Nhà nước, doanh nghiệp
và cá nhân người lao động, góp phần tạo ra giá trị mới nên trong phân phối
thu nhập, tiền lương là khoản thu nhập chính đáng của người lao động. Tiền
lương là phương tiện để duy trì và khôi phục năng lực lao động trước, trong
và sau quá trình lao động (Tức là để tái sản xuất sức lao động). Tiền lương
nhận được là khoản tiền họ được phân phối theo lao động mà họ đã bỏ ra.
Nói tóm lại, tiền lương là một khoản tiền mà người sử dụng lao
động trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc nào đó. Tiền
lương được biểu hiện bằng giá cả sức lao động, người sử dụng sức lao động
phải căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động của người lao động cũng
như mức độ phức tạp, tính chất độc hại của công việc để tính và trả lương
cho người lao động.
Tiền lương là một khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động nếu nó là một khoản mục chi phí cấu thành nên giá thành
sản phẩm. Do vậy, nó là một khoản khấu trừ vào doanh thu khi tính kết quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, tiền lương còn được chủ doanh nghiệp dùng như là một
công cụ tích cực đến người lao động. Tiền lương gắn chặt với quy luật nâng
5
5
cao năng suất lao động và tiết kiệm thời gian lao động. Bởi vì tăng năng
suất lao động là cơ sở để tăng tiền lương, đồng thời phần tiết kiệm được do
tăng năng suất lao động được dùng để tăng lương lại là động lực thúc đẩy
tăng số lượng và chất lượng sản phẩm. Tiền lương là lợi ích vật chất trực
tiếp mà người lao động được hưởng từ sự cống hiến sức lao động của họ.
Vậy trả lương xứng đáng với sức lao động mà họ bỏ ra sẽ có tác dụng
khuyến khích người lao động tích cực lao động, quan tâm hơn nữa đến kết
quả lao động của họ. Từ đó tạo điều kiện tăng năng suất lao động, thúc đẩy
sản xuất phát triển.
2. Các yêu cầu và chức năng của tiền lương:
2.1. Yêu cầu:
Khi tổ chức tiền lương cho người lao động cần phải đạt được các
yêu cầu sau:
Một là: Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng
cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động.
Hai là: Làm cho năng suất lao động không ngừng được nâng cao.
Ba là: Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu. Đảm bảo tính công
bằng cho người lao động.
Doanh nghiệp phải lo được cho người lao động có tiền lương cao
hơn tiền lương tối thiểu hiện hành. Tiền lương phải đủ cho nhu cầu của
người lao động, nó phải đáp ứng được nhu cầu về tinh thần và vật chất của
người lao động. Tiền lương được trả phải dựa vào sự cống hiến sức lao
động khác nhau
2.2 Chức năng của tiền lương:
6
6
Tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp, nó phản ánh mối quan
hệ kinh tế trong việc tổ chức trả lương, trả công cho người lao động. Nó
bao gồm các chức năng sau:
- Tiền lương là một công cụ để thực hiện chức năng phân phối thu
nhập quốc dân, chức năng thanh toán giữa người sử dụng sức lao động và
người lao động.
- Nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc sử dụng tiền lương
trao đổi lấy các vật sinh hoạt cần thiết cho tiêu dùng của người lao động
- Kích thích con người tham gia lao động, bởi lẽ tiền lương là một
bộ phận quan trọng về thu nhập, chi phối và quyết định mức sống của
người lao đông, do đó là một công cụ quan trọng trong quản lý. Người ta sử
dụng nó để thúc đẩy người lao động trong công việc, hăng hái lao động và
sáng tạo, coi như là một công cụ tạo động lực trong lao động.
Như vậy tiền lương có vai trò rất quan trọng. Trong việc phải giải
quyết các vấn đề phải đặt nó trong mối quan hệ và sự tác động qua lại với
nhiều vấn đề kinh tế khác, đặc biệt với sự phát triển của xã hội và nâng cao
năng suất lao động. Trong doanh nghiệp tiền lương phải bảo đảm được sự
công bằng và khuyến khích người lao động tăng khả năng làm việc
3. Các nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương:
3.1. Trả công ngang nhau cho lao động như nhau:
Nguyên tắc này được đưa ra nhằm đảm bảo sự công bằng trong
công việc trả lương cho người lao động. Hai người có tay nghề và năng
suất lao động như nhau thì phải được trả lương như nhau, không có sự phân
biệt đối xử về giới tính và tuổi tác. Thực hiện nguyên tắc này nhằm xoá đi
sự lạm dụng những tiêu cực bất hợp lý để hạ thấp tiền lương của người lao
động.
7
7
3.2. Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình
quân:
Quy định năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân
là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức tiền lương. Vì có như vậy mới tạo
cơ sở giảm giá thành, hạ giá bán và tăng tích luỹ. Có nhiều nhân tố tác
động đến mối quan hệ này cho phép thực hiện được nguyên tắc trên. Tiền
lương bình quân tăng lên phụ thuộc vào những nhân tố chủ quan do nâng
cao năng suất lao động (Nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt tổn thất về
thời gian lao động ). Năng suất lao động tăng không phải là chỉ có do
những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào nhân tố khách quan
khác (áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên). Như
vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng là có khả năng khách quan hơn
tăng tốc độ của tiền lương bình quân. Tuy nhiên, khi xem xét việc tăng tiền
lương cần phải xem xét hai khía cạnh tăng tiền lương để đảm bảo đời sống
cho người lao động nhưng cũng phải phù hợp với tăng năng suất lao động.
Có như vậy mới không rơi vào tình trạng “ăn vào vốn”.
Tóm lại, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như trong nội bộ
doanh nghiệp muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ thì không còn con
đường nào khác ngoài việc làm cho tốc độ tăng năng suất lao động nhanh
hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Vi phạm nguyên tắc trên tạo nên
những khó khăn trong việc phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của
nhân dân lao động.
3.3. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao
động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân:
Trình độ lành nghề bình quân của những người lao động, điều kiện
lao động và ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân là
khác nhau và điều này có ảnh hưởng tới tiền lương bình quân của người lao
8
8
động. Đương nhiên những nghề có tính chất phức tạp về kỹ thuật nhiều
hoặc có vị trí mũi nhọn trong nền kinh tế thì mức lương trả cho những
người lao động trong các ngành này phải cao hơn so với các ngành khác.
Tuy nhiên, việc trả lương cao như thế nào để tránh sự chênh lệch quá mức
góp phần vào sự phân hoá giầu nghèo trong xã hội là điều cần lưu ý. Tiền
lương trả đúng sức lao động sẽ khuyến khích người lao động làm việc. Tiền
lương trả cao hơn sẽ làm giảm năng suất lao động. Vì vậy, khi trả lương
cho người lao động cần thực hiện đúng các nguyên tắc của tiền lương.
II. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG:
1. Hình thức trả lương theo thời gian:
Hình thức trả lương theo thời gian rất dễ bị vi phạm nguyên tắc thứ
nhất vì theo hình thức này người ta trả lương cho người lao động dựa vào
thời gian làm việc của người lao động và bậc lương của họ. Do đó tiền
lương không gắn trực tiếp với kết quả sản xuất của người lao động. Vì vậy
nó gây nên một hiện tượng khó tránh khỏi là người lao động vì thu nhập
của mình chỉ cần tìm cách nâng cao cấp bậc chức vụ mà không cần nâng
cao trình độ lành nghề. Để đảm bảo ba nguyên tắc của tổ chức tiền lương
vấn đề đặt ra là cần xác định trình độ lành nghề để xác định được hệ số
lương của họ. Từ đó đối chiếu vào thang lương cấp bậc để tính ra suất
lương thời gian theo bậc chính xác. Cách tính suất lương thời gian theo cấp
bậc như sau:
S giờ i = S giờ 1 x Ki
S ngày i = S ngày 1 x Ki
S tháng i = S tháng 1 x Ki
Trong đó:
9
9
S giờ i, S ngày i, S tháng i, là mức lương (Suất lương) giờ, ngày,
tháng của công nhân bậc i, ký hiệu chung là STGi. S giờ 1, S ngày 1, S
tháng 1 là mức lương của công nhân bậc 1 được quy định ở thang lương.
Ki là hệ số lương của công nhân bậc i và được quy định ở thang
lương. Sau khi tính được S giờ i, S ngày i hay S tháng i ta tính được lương
thời gian theo công thức sau:
Để đảm bảo tính lương đúng thì việc xác định STG i và thời gian
làm việc phải chính xác. Có nghĩa là phải xác định trình độ lành nghề của
người lao động (Cấp bậc) và thời gian làm việc thực tế của họ. Hình thức
trả lương theo thời gian gồm hai chế độ: Theo thời gian đơn giản và theo
thời gian có thưởng.
1.1 Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản:
Chế độ trả lương theo thời gian là chế độ trả lương mà tiền lương
nhận được của mỗi người lao động do mức lương thời gian (STG i) cao hay
thấp và thời gian thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định, tiền lương được
tính theo công thức nêu ở trên, ngoài ra không còn khoản nào khác. Chế độ
này có nhiều hạn chế vì tiền lương không gắn với kết quả lao động. Tiền
lương của người lao động cố định theo bậc lương của họ, cho dù kết quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lãi hay lỗ. Chế độ trả lương như thế
sẽ làm cho việc sử dụng lao động kém hiệu quả. Về mặt ưu điểm theo chế
độ này việc tính lương sẽ dễ dàng.
1.2. Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng:
Chế độ này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian đơn
giản và tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng, chất lượng
theo quy định. Chế độ này khắc phục được nhược điểm của chế độ trả
10
Lương TG i = STG i x Thời gian làm việc thực tế
10
lương theo thời gian đơn giản. Kết quả lao động có ảnh hưởng đến tiền
lương của người lao động, kết quả lao động tốt sẽ được thưởng. Việc tính
toán chỉ tiêu thưởng cho chế độ này là phức tạp vì những người hưởng
lương theo thời gian là lao động quản lý nên kết quả lao động của họ khó
mà xác định được rõ ràng để đặt ra chỉ tiêu thưởng cụ thể.
Với hình thức trả lương theo thời gian, tiền lương thường dễ mang
tính bình quân, nhiều lúc bậc lương không phản ánh đúng trình độ của
người lao động do việc đánh giá trình độ của người lao động quản lý là khó
chính xác. Để góp phần giảm bớt tính bình quân thì vai trò của tiền thưởng
trong hình thức trả lương này có xu hướng được nâng cao. Tức là khi áp
dụng hình thức trả lương theo thời gian nên áp dụng trả lương theo thời
gian có thưởng.
2. Hình thức trả lương theo sản phẩm:
Hiện nay cùng với hình thức trả lương theo thời gian trong các đơn
vị kinh tế cơ sở thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đang áp dụng rộng
rãi hình thức trả lương theo sản phẩm với nhiều chế độ linh hoạt.
Hình thức trả lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm so với hình
thức trả lương theo thời gian và có những tác dụng sau đây:
- Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất
lượng lao động. Nó gắn việc trả lương với kết quả sản xuất của mỗi người,
do đó, kích thích nâng cao năng suất lao động.
- Khuyến khích người lao động ra sức học tập văn hoá - khoa học -
kỹ thuật - nghiệp vụ để nâng cao trình độ lành nghề, ra sức phát huy sáng
kiến, cải tiến kỹ thuật, cải tiến phương pháp lao động, sử dụng tốt máy móc
thiết bị để nâng cao năng suất lao động.
11
11
- Góp phần thúc đẩy công tác quản lý doanh nghiệp, nhất là công
tác quản lý lao động.
Muốn cho hình thức trả lương theo sản phẩm phát huy đầy đủ tác
dụng, đem lại hiệu quả kinh tế, khi tiến hành trả lương theo sản phẩm cần
có những điều kiện cơ bản sau đây:
- Phải xây dựng được các mức lao động có căn cứ khoa học. Điều
này tạo điều kiện để tính toán các đơn giá trả lương chính xác.
- Tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc. Kết quả hoàn thành mức lao
động trong ca làm việc, ngoài sự cố gắng của người lao động còn do trình
độ tổ chức và phục vụ nơi làm việc quyết định. Tổ chức và phục vụ tốt nơi
làm việc, hạn chế đến mức tối đa thời gian không làm theo lương sản
phẩm, sẽ tạo điều kiện để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
- Thực hiện tốt công tác thống kê, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm
sản xuất ra. Do tiền lương phụ thuộc vào số lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn
quy định đã sản xuất ra và đơn giá. Vì thế muốn trả lương chính xác cần
phải tổ chức tốt công tác thống kê, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm và xác
định đúng đơn giá.
Đơn giá là số tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm đã được kiểm
tra, nghiệm thu.
- Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho người lao động
để họ nhận thức rõ trách nhiệm khi làm việc hưởng lương theo sản phẩm,
tránh khuynh hướng chỉ chú ý tới số lượng sản phẩm, không chú ý tới việc
sử dụng nguyên vật liệu, máy móc và giữ vững chất lượng sản phẩm.
Việc tính lương theo sản phẩm cho người lao động được căn cứ vào
đơn giá, số lượng, chất lượng sản phẩm của người công nhân làm ra để trả
lương cho họ.
12
12
L
sp
= ĐG x M
tt
Trong đó:
Lsp: Lương trả theo sản phẩm.
ĐG: Đơn giá sản phẩm.
Mtt: Số lượng sản phẩm thực tế được sản xuất ra trong kỳ tính
lương.
Căn cứ vào đơn giá sản phẩm và đối tượng trả lương, hình thức trả
lương theo sản phẩm có nhiều chế độ khác nhau áp dụng cho từng đối
tượng trong từng trường hợp cụ thể cho các thành phần kinh tế khác nhau.
Dưới đây là một số chế độ đã và đang áp dụng trong sản xuất:
2.1. Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân:
Chế độ trả lương này được áp dụng rộng rãi đối với người trực tiếp
sản xuất trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chất độc lập
tương đối, có thể định mức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ
thể riêng biệt.
Trong đó:
ĐG: Đơn giá sản phẩm.
L: Lương theo cấp bậc công việc.
Q: Mức sản lượng.
T: Mức thời gian.
Tiền lương của công nhân được nhận L = ĐG x Qtt.
13
ĐG =
L
Q
ĐG = L x T
Hoặ
13
Ưu điểm: Mối quan hệ giữa tiền lương của công nhân nhận được và
kết quả lao động thể hiện rõ ràng, do đó kích thích công nhân cố gắng nâng
cao trình độ lành nghề để nâng cao năng suất lao động nhằm tăng thu nhập.
Chế độ tiền lương này dễ hiểu, công nhân dễ dàng tính toán tiền lương của
mình sau khi hoàn thành nhiệm vụ sản xuất.
Tuy nhiên chế độ tiền lương này cũng còn nhược điểm là: Tinh thần
tập thể kém, công nhân ít quan tâm đến việc sử dụng tốt máy móc thiết bị
và nguyên vật liệu, ít quan tâm đến việc chung của tập thể.
2.2 Chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể:
Chế độ trả lương này áp dụng đối với những công việc cần một tập
thể công nhân cùng thực hiện.
Ưu điểm: Khuyến khích công nhân trong tổ, nhóm nâng cao trách
nhiệm trước tập thể, quan tâm đến kết quả cuối cùng của tổ. Đơn giản, dễ
hiểu, dễ áp dụng.
Nhược điểm: Sản lượng của mỗi công nhân không trực tiếp quyết
định tiền lương của họ, do đó ít nâng cao năng suất lao động cá nhân. Mặt
khác, do phân phối tiền lương chưa tính đến tình hình thực tế của công
nhân về sức khỏe, thái độ lao động nên chưa thực hiện đầy đủ nguyên tắc
phân phối theo số lượng và chất lượng lao động.
2.3. Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp:
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng cho những công nhân phụ mà
công việc của họ có ảnh hưởng nhiều đến kết quả lao động của công nhân
chính hưởng lương theo sản phẩm.
Tiền lương của công nhân phụ cũng có thể tính bằng cách lấy phần
trăm hoàn thành mức sản lượng của công nhân chính nhân với mức lương
cấp bậc của công nhân phụ.
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét