Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Nghiên cứu về thị trường chứng khoán


5
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của
cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô
hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích
áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng.
Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh
nghiệp.
c. Đối với nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm
kiếm các cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư.
4. Nhược điểm của thị trường chứng khoán.
a. Yếu tố đầu cơ.
Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro. Họ có thể mua
cổ phiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi
được lợi nhuận trong từng thương vụ. Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền
làm cho giá cổ phiếu có thể tăng giả tạo. Tuy nhiên thị trường không cấm yếu
tố này.
b. Mua bán nội gián.
Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc
của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để mua
hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm thu lợi
cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường. Đây là hành
vi phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước.
c. Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc.
Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình
hình nội bộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng
hay giảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân.
d. Mua bán cổ phiếu ngầm.

6
Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứng
khoán. Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việc khống
chế hay thay thế lãnh đạo.
Việc phao tin đồn không chính xác và mua bán cổ phiếu ngầm đều bị
cấm ở các nước.
5. Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.
a. Nguyên tắc trung gian.
Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông
qua tổ chức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán. Trên thị
trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành
mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua
nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán mua chứng khoán
giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này để mua và
bán cho các nhà đầu tư khác.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là
chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi
của các nhà đầu tư.
b. Nguyên tắc định giá.
Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các
nhà trung gian môi giới. Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng
khoán tại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng
khoán có trên thị trường. Việc định giá chứng khoán được thực hiện thông
qua cuộc thương lượng giữa những người trung gian môi giới cần mua và cần
bán. Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất. Tất cả các thành viên có
liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự tác động qua lại của
số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định giá
chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế thị trường chứng khoán được coi là
thị trường tự do nhất trong các thị trường.
c. Nguyên tắc công khai hoá.
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai
hoá về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như

7
tình hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng
chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trong
các báo cáo. Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán được
mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay. Nguyên tắc này
nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị
hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại
chứng khoán theo sở thích của mình.
II. CHỨNG KHOÁN.
1. Khái niệm.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác
nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều kiện về
thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng.
2. Phân loại.
a. Căn cứ theo tiêu thức pháp lý có chứng khoán vô danh và chứng
khoán kí danh.
Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ sở
hữu. Việc chuyển nhượng loại này rất dễ dàng, không cần thủ tục đăng ký
rườm rà.
Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán ghi rõ họ tên chủ sở hữu.
Việc chuyển nhượng loại này được thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại cơ quan
phát hành.
b. Căn cứ theo tính chất thu nhập có chứng khoán có thu nhập ổn định,
chứng khoán có thu nhập không ổn định và chứng khoán hỗn hợp.
Chứng khoán có thu nhập ổn định là các trái phiếu thu nhập của nó
không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Chứng khoán có thu nhập không ổn định là các cổ phiếu thường, thu
nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty và chính
sách trả cổ tức.
Chứng khoán hỗn hợp là cổ phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không
phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.

8
c. Căn cứ theo chủ thể phát hành có chứng khoán Chính phủ và chứng
khoán công ty.
Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính
phủ trung ương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho
bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước.
Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ
phần phát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứng
khoán.
3. Trái phiếu.
a. Đặc điểm.
Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền
đòi nợ bao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào
đó và có khả năng chuyển nhượng.
Từ khái niệm trên ta thấy trái phiếu có đặc điểm là có thu nhập ổn định,
có khả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn. Đồng thời trái chủ không
có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị. Nhưng trái phiếu
đem lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như
thanh lý tài sản khi công ty phá sản.
b.Một vài loại trái phiếu.
Trái phiếu có lãi suất cố định là trái phiếu cho lãi suất cố định ngay tại
thời điểm phát hành.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh
theo từng thời kỳ.
Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó
được mua với giá thấp so với mệnh giá. Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm
sẽ bằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn.
Trái phiếu thu nhập là trái phiếu được phát hành bởi các công ty đang
trong thời kỳ tổ chức lại. Công ty phát hành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu
hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công ty có đủ thu nhập.

9
Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thể mua lại
trái phiếu vào một thời gian nào đó. Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi
một vài năm sau khi chúng được phát hành.
Trái phiếu có thể chuyển đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó được
chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu nhất định với giá xác định.
Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó
có quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ở
một giá xác định (một giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cổ phiếu).
Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát
hành tại một nước khác.
Trái phiếu Dollar là trái phiếu phát hành bằng đồng Đôla Mỹ ở các nước
ngoài nước Mỹ.
Trái phiếu Yankee là trái phiếu của các công ty và Chính phủ nước ngoài
phát hành bằng Đôla Mỹ và được giao dịch ở thị trường Mỹ.
4. Cổ phiếu.
a. Khái niệm
Cổ phiếu là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận
quyền sở hữu về tài sản và những điều kiện về thu nhập trong một khoảng
thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Có hai loại cổ phiếu là cổ
phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.
b. Cổ phiếu thường.
Cổ phiếu thường là cổ phiếu không có thời gian đáo hạn, không có thu
nhập ổn định mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh
hay chính sách chi trả cổ tức của công ty. Cổ phiếu thường có khả năng
chuyển nhượng dễ dàng. Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia
bầu cử vào Hội đồng quản trị nhưng không được ưu tiên trong phân chia lợi
nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản. Ngoài ra cổ phiếu
thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cổ đông.



10
c. Cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có sự ưu tiên hơn cổ phiếu thường trong
việc phân chia lợi nhuận cũng như chi trả cổ tức và thanh lý tài sản khi công
ty phá sản.
Cổ phiếu ưu đãi cũng như cổ phiếu thường là nó không có thời gian đáo
hạn. Nó tồn tại ở sự tồn tại của công ty. Nó cũng có khả năng chuyển nhượng
nhưng phải thêm một số điều kiện nhất định. Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lẫn
cổ phiếu thường đều không phải là nợ của công ty do đó không có thu nhập
ổn định trong điều kiện bình thường và nó có thể được mua lại bởi nhà phát
hành.
Cổ phiếu ưu đãi còn có một số điều khoản kèm theo. Thứ nhất, cổ phiếu
ưu đãi có tính chất tham dự trong phân chia lợi nhuận khi công ty làm ăn có
lãi, vượt một mức nào đó. Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi có tính chất bỏ phiếu.
Trong điều kiện bình thường, cổ phiếu ưu đãi không có tính chất bỏ phiếu.
Nhưng khi công ty làm ăn thua lỗ, cổ phiếu ưu đãi sẽ có tính chất bỏ phiếu.
Thứ ba, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tích luỹ hay không tích luỹ tức là do côgn
ty làm ăn không hiệu quả, công ty sẽ không trả cổ tức. Nhưng khi công ty làm
ăn có lãi công ty có thể trả cổ tức cho những năm bị thua lỗ trước đó hoặc
không trả cổ tức của những năm chưa trả được.
5. Các công cụ phát sinh.
a. Khái niệm.
Công cụ phát sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những
công cụ đã có như cổ phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi
ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận.
b. Một số công cụ phát sinh là quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai.
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua
(nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán một khối lượng
nhất định hàng hoá với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định.
Các hàng hoá này có thể là cổ phiếu, trái phiếu hay hợp đồng tương lai.
Hợp đồng tương lại là một thoả thuận trong đó một người mua và một
người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác định

11
trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. Hợp đồng
tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, nó xoá bỏ rủi ro tín dụng vì nó
được công ty thanh toán bù trừ phục vụ như là một trung gian trong tất cả các
giao dịch. Người bán và người mua đều bán mua qua công ty thanh toán bù
trừ. Hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hoấ về việc giao nhận một khối
lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối
thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước. Hợp đồng tương lai còn được
chuyển giao theo giá thị trường tức là bất kỳ món lợi nào cũng được giao
nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá
đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá
này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Việc thanh toán như
thế được tiến hành hàng ngày.

12

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM HIỆN NAY.

I. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.
1. Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán.
Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập để
quản lý và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN
và bảo vệ quyền lợi cho các nhà đâu tư. Đây là bước đi đúng phù hợp với điều
kiện của Việt Nam và xu hướng quốc tế.
2. Về trung tâm giao dịch chứng khoán.
Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh đã được
thành lập. Còn trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội đang được xem
xét thành lập. Hệ thống giao dịch của trung tâm tự động hoá với trạm làm việc
có công suất nhỏ.
3. Về sở giao dịch chứng khoán.
a. Hình thức sở hữu.
Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Nhà nước sử hữu,
để đảm bảo an toàn, công bằng theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Sở giao dịch chứng
khoán do Thủ tướng chính phủ quyết định theo đề nghị của Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là một tổ chức hoạt
động không vì lợi nhuận đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước.
b. Số lượng Sở giao dịch chứng khoán.
Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán
mà các nước đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao
dichj chứng khoán thống nhất với các sàn giao dịch tại một, hai thành phố
được nối mạng với nhau.

13
c. Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở thành phố Hồ Chí Minh vì hiện
nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất trong
nước và để cho Sở giao dịch phát triển. Với hệ thống giao dịch điện tử, các
công ty môi giới tại Hà Nội vẫn có thể dễ dàng sẽ được tiếp cận thị trường.
d. Giao dịch ngoài Sở.
Đối với Việt Nam, để công khai hoá tất cả các hoạt động giao dịch, Nhà
nước đang xem xét thành lập Sở giao dịch chứng khoán tập trung cho tất cả
các chứng khoán (kể cả công ty và và nhỏ) có đủ điều kiện niêm yết, hay
không đủ điều kiện niêm yết được mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán.
Tuy nhiên, việc giao dịch những chứng khoán của công ty lớn (đủ điều kiện
niêm yết) tách biệt với khu vực giao dịch những chứng khoán của những công
ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết.
e. Hệ thống giao dịch.
Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản cho phép
có được giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp
dụng. ở Việt Nam trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối
lượng giao dịch còn nhỏ, nên áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt để
giảm bớt sự biến động của giá cả.
g. Mức độ tự động hoá.
Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu
hướng giảm thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá ngay
từ đầu. Nếu bắt đầu bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế bằng hệ
thống tự động thì sẽ tốn kém. Để tiết kiệm chi phí cho thời gian đầu ở Việt
Nam chỉ lắp đặt thiết bị với công suất xử lý thấp. Các thiết bị lắp đặt ở trạng
thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể lắp đặt thêm nhằm mổ
rộng công suất xử lý của hệ thống.
4. Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán - bù trừ và lưu giữ chứng khoán.
Hệ thống đăng ký, thanh toán - bù trừ và lưu giữ chứng khoán. Các chức
năng đăng ký, thanh toán, bù trù và lưu giữ được kết hợp vào một trung tâm

14
duy nhất trong cả nước. Các công ty chứng khoán và các ngân hàng được cho
phép trở thành công ty lưu ký.
5. Về các tổ chức trung gian.
Ở Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới
hình thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh
tiền tệ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán
độc lập hình thành từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn.
Ở Việt Nam các công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các
hình thức như : bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư
doanh chứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Riêng hình
thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải hoạt động tách rời dưới hình thức một
công ty độc lập nhằm bảo vệ lợi ích của những cổ đông của quỹ.
Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham
gia kinh doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh.
Trên thế giới có hai loại quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu là quỹ đóng,
vaf quỹ mở. Trong thời gian đầu Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ
đầu tư chứng khoán dạng quỹ đóng (quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông
muốn rút vốn) để đảm bảo an toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị
trường còn thấp.
6. Về sự tham gia của bên nước ngoài.
Việt Nam cho phép bên nước ngoài được sở hữu một tỷ lệ phần trăm
nhất định và cho phép công ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với
công ty chứng khoán trong nước theo một tỷ lệ liên doanh nhất định.
II. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
HIỆN NAY.
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời cho nên không tránh khỏi
có những hạn chế. Thị trường chứng khoán có tầm quan trọng vốn có của nó
cho nền thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được quan tâm một cách đáng
kể để phát triển một cách hoàn thiện.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có ít chứng khoán được giao
dịch cả về số lượng và giá trị. Hiện có năm cổ phiếu của SAM, REE, TMS,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét