Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Ảnh hưởng của việc nuôi dưỡng thai nhi kém
Việc nghiên cứu con cái của những bà mẹ đã chịu cảnh thiếu đói hồi cuối thế chiến thứ hai tại
Amsterdam (do người Đức thực hiện vịêc phong toả thực phẩm) là một thí dụ khá rõ về những ảnh
hưởng này. Trải qua nhiều thế hệ, những biến đổi rất nhanh gần đây về mức độ và bản chất của môi
trường thực phẩm đã tác động lên tình trạng dư thể trọng.
Quả vậy, những đứa bé đã phải chịu đựng sự hạn chế dinh dưỡng trong dạ con của mẹ suốt ba tháng
cùng của thời kỳ bào thai, khi sinh ra thường nhẹ cân hơn các bé khác. Đó là do chế độ ăn uống của
mẹ đã tác động trực tiếp lên bào thai.
Những đứa bé chịu đựng sự hạn chế nói trên trong 6 tháng đầu của thời kỳ bào thai, khi sinh ra vẫn
cân nặng giống như bé khác, nhưng đến thế hệ con cái chúng, sự không dung nạp đường glucoza và
tính kháng insulin phát triển thường xuyên hơn các bé khác, từ đó có nguy cơ cao về chứng béo phì
và bệnh tiểu đường.
Nhưng điều kỳ lạ nhất là việc thiếu dinh dưỡng đã tác động lên sự không dung nạp glucoza còn kéo
dài đến tận thế hệ thứ hai, mà không có tác nhân kích thích nào. Những biến đổi đó thể hiện ở thế hệ
thứ hai có thể là do những biến đổi xuất hiện ở bào thai, trong các thể bào sinh dục và truyền lại.
Điều đó chứng tỏ sự thích nghi mau chóng của con người đối với môi trường thông qua biến đổi gen.
Loại thích nghi nhanh chóng đó cho phép tăng tuổi thọ của các cá nhân và của cả đàn con cháu nữa.
Điều xảy ra chứng tỏ nếu bào thai bị thiếu dinh dưỡng trong những thời kỳ nhất định của quá trình
phát triển, sẽ để lại dấu ấn chuyển hóa, một sự “chương trình hóa” ngắn hạn những tác động thuận
lợi cho sự tồn tại, nhưng đặc tính quyết định của nó, xét về lâu dài trong suốt cuộc đời, khi đứa trẻ đã
trưởng thành, lại dẫn tới những hậu quả bệnh lý như cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đái tháo
đường kháng insulin.
Cả quá trình giảm dần dần thức ăn trong một bữa cơm và trạng thái của một người hoàn toàn no đủ
là biểu hiện của sự kiềm chế tính thèm ăn liên quan đến một loạt phản ứng phức tạp. Những phản
ứng đó (về sinh lý, chuyển hóa, hóa thần kinh, tâm lý) được khởi động bởi tác động của đồ ăn và
chất leptin (hormon gây ra sự chán ngấy), phụ thuộc chính vào nhiều phản ứng gây ra bởi mắt nhìn,
mũi ngửi và miệng ăn thức ăn. Và chính những phản ứng đó lại “quyết định” những đáp ứng sinh lý
và chuyển hóa.
Hãy xét thí dụ về một cậu bé đang yên lặng ngồi ăn hambơgơ. Ngay khi nó vừa chén bánh xong,
nghĩa là còn lâu mới kết thúc quá trình tiêu hóa, bộ óc đã có thể quyết định xem với chiếc bánh trông
ngon mắt, mùi thơm phức và ăn rất mềm kia, sự thèm ăn đã thỏa mãn chưa. Đó chính là sự chán về
tâm thần giác quan: cậu bé đã có cái mà nó muốn. Nó bèn đứng dậy sẵn sàng chạy đi làm việc khác
ngoài chuyện ăn uống.
Nhưng quá trình chán ăn chưa hẳn đã hoàn tất. Một khi các tố chất dinh dưỡng được hấp thụ qua ruột
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
rồi lưu chuyển trong máu, chúng trở thành những thông điệp chuyển hóa được đưa tới não và được
mã hóa như những tín hiệu hóa học thần kinh, sau khi não đã kết hợp những khái niệm về số lượng,
chất lượng đồ ăn cũng như trạng thái chuyển hóa xảy ra sau khi ăn. Chính lúc này não sẽ truyền đi:
“Dừng lại, hết đói rồi!” hay “Thêm nữa!” (đó là sự chán ngấy về chuyển hóa). Đứa trẻ sẽ đợi được
tới tận bữa ăn chiều và một giờ sau đó cũng không đòi ăn thêm một chiếc kem hay một ít khoai rán
nữa. Chính giai đoạn thứ hai này sẽ xác định một cách lý tưởng sự phân chia khoảng cách giữa các
bữa ăn và nếu mọi sự đều ổn thoả thì chấm dứt được việc ăn vặt không đúng lúc.
Còn về sự điều tiết tính thèm ăn trong thời hạn lâu hơn, chính là do leptin, chất protein đặc sắc đó đã
chuyển tín hiệu từ mô mỡ lên não thông báo về lượng dự trữ chất béo trong cơ thể (xem chương
5).Tất cả những thông tin đó chuyển đến não đã tạo nên những tín hiệu về sự chán ngấy, do vậy sẽ
tham gia vào việc kiềm chế tính thèm ăn.
Mọi thức ăn không làm no bụng theo cách giống nhau
Ta vẫn biết rằng những chất dinh dưỡng lượng lớn trong nguồn thức ăn (gluxit, protit, lipit) không có
cùng khả năng làm ta no bụng hay thỏa thuê. Chẳng hạn, 1 g thịt và 1 g đường cung ứng mỗi thứ 4
kcal, nhưng ăn thịt chóng no hơn ăn đường. Còn như dầu ăn, 1 g sản ra 9 kcal, nhưng dầu làm no
bụng kém hơn protein và gluxit. Bạn hẳn thấy ngay rằng nếu thay một phần chất mỡ bằng thức ăn có
xơ thì đạt hiệu quả hơn.
Điều đó đã được chứng minh và đo lường trong ba công trình kho học thực hiện tại Trung tâm
nghiên cứu Nestlé. Những công trình đó cũng nêu rõ là khả năng làm no bụng của mỗi chất dinh
dưỡng lượng lớn đối với nam giới và nữ giới không giống nhau.
Với những cơ chế rắc rối đó, bạn thấy rõ phải làm thế nào để thực hiện từng bước việc cải tạo thái độ
ăn uống của con bạn, hẳn không phải chỉ để triệt bỏ và hạn chế số lượng và chất lượng đồ ăn theo lối
cổ, mà phải quan tâm đến những nhu cầu riêng biệt của cháu bé, không nên đơn thuần dùng biện
pháp tước bỏ.
Thật vậy, nếu đến bữa, cháu bé không muốn ăn những thức ăn dọn ra bàn, vì những nguyên nhân nào
đó về tâm lý và quan hệ, thì cháu sẽ lấy bích quy hoặc khoai rán ăn ngấu nghiến. Bạn hãy tin rằng
cháu chỉ làm thế cho bõ tức chứ không thích thú gì. Chỉ nhận được ít thôi thì phải làm sao để có
nhiều hơn: tội gì không ăn thêm vài chiếc bánh nữa rồi thêm một gói khoai rán vàng rộm, ròn tan, và
thêm một vại coca lớn nữa, và…?
Nhu cầu và sự thiếu thốn
Bạn dọn cho con một khay thức ăn nhẹ để cháu có thể nhấm nháp khi chơi đồ chơi, hay khi cháu
ngồi trước máy vi tính, ti vi. Cháu sẽ ngốn thức ăn hẳn là qua miệng, nhưng cái chính là “màn ảnh
nhỏ” sẽ làm đoản mạch sự kích thích tâm thần giác quan của cháu, khiến cháu không có được cảm
giác cần thiết về sự no bụng. Thức ăn đó không thực sự khởi động được tín hiệu thứ nhất về cảm giác
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
no. Hoặc mãi sau này, khi đã ăn được một lượng khá đầy bụng rồi, không còn cảm giác về mặt nhu
cầu nữa, mà lại là một cảm giác thiếu hụt. Về cái gì nhỉ? Về sự hiện hữu; một sự lấp đầy bụng (và cả
no mắt nữa) những chất đường, chất béo để được “đền bù”. Cơ thể và bộ não chưa có thời gian kết
toán lượng thức ăn đã ăn thì sự tiêu hóa đã bắt đầu.
Con người thường chống lại sự thiếu ăn mà không chống lại sự ăn quá mức. Cơ thể cần có năng
lượng thì mới hoạt động tốt được. Năng lượng đó được cung ứng bởi thức ăn, và có một hệ thống
phức tạp các tín hiệu sinh học để điều hòa thói quen ăn uống sao cho cung ứng đủ nhu cầu. Nhưng
thói quen đó cũng là kết quả của ý thức có phản ứng tùy thuộc những bó buộc của hoàn cảnh. Do
vậy, con người có khả năng thay đổi thói quen ăn uống nhằm đạt một mục tiêu nhất định, ví như
tuyệt thực vì lý do chính trị hay ăn kiêng để đảm bảo yêu cầu thẩm mỹ. Ngược lại, sự phong phú
thức ăn giàu năng lượng với hương vị dễ chịu dẽ kích thích ăn uống quá mức.
Những cơ chế điều hoà thường chống đối lại việc giảm bớt cung ứng năng lượng và gây ra cảm giác
đói bụng và xung năng đòi ăn. Ngược lại, không hề có hiện tượng xung năng đòi hỏi ăn uống ít đi
khi mà số calo cung ứng đã quá lớn. Con người thường có sự chống trả mãnh liệt với việc giảm thiểu
ăn uống, nhưng lại chỉ có sự đáp ứng nhỏ nhoi với sự ăn uống quá nhiều.
Nhưng chất mỡ, món chủ lực trong bữa tiệc đó, không đủ làm thỏa mãn kẻ phàm ăn (vì mỡ không có
khả năng tạo cảm giác “no đủ” mạnh) mà kẻ phàm ăn thì thường có nhu cầu “cơ bản” luôn gia
tăng… Ăn thêm nữa sẽ đem lại cho cậu bé những protein làm no bụng và cũng thêm cả lượng chất
béo dư thừa…
Để xài được mọi thứ đồ ăn, bao giờ cũng là đồ uống có đường. Như một ngọn roi tạo nên cú hích và
mọi sự lại tiếp diễn, nhưng rồi cũng chẳng được bao lâu. Rồi lại tiếp sau đó món “ăn nhẹ” thứ hai.
Cần phải bỏ cách ăn uống đó phải “phá bỏ” đi để xây dựng lại. Rõ ràng là trước mắt, bạn phải đảm
đương một chương trình giáo dục dinh dưỡng, không chỉ đơn thuần là việc đề ra và áp dụng các chế
độ tiết chế ăn uống, mà phạm vi được mở rộng hơn rất nhiều.
Môi trường cũng có tác động mạnh
Dù sao thì sự di truyền cùng những cơ chế về sinh lý và sinh học cũng không phải là những yếu tố
duy nhất quyết định sự dư thừa thể trọng. Điều kiện sống, cách ăn uống, quan hệ với bố mẹ và thức
ăn đều giữ vai trò rất quan trọng. Chứng cớ là với phần lớn trẻ em trong độ tuổi từ 1 đến 21, sự vạm
vỡ của cơ thể thường có thay đổi: chỉ 41% trẻ em quá mập khi 1 tuổi vẫn giữ nguyên thân hình to
béo khi lớn lên; và trong số những trẻ có thân hình gầy guộc hay trung bình thì 20% trở thành béo tốt
năm 21 tuổi.
Kết luận: Đối với các em bé dư thể trọng lúc 1 tuổi thì khi đến tuổi trưởng thành, nguy cơ mắc chứng
dư thể trọng hay béo phì cao gấp đôi so với các cháu bé khác dù cho trong số 10 cháu này thì 6 cháu
khi lớn lên trọng lượng cơ thể sẽ được điều tiết lại.
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Vậy không nên cho là tại số mệnh, mà phải quan tâm nhiều và đề cao cảnh giác ngay từ thời gian
đầu. Nghĩa là bạn cần can thiệp ngay khi sự tích mỡ tăng vọt hay khi biểu đồ trọng lượng vượt lên
cao so với tầm cỡ của cháu. Bạn phải dùng mọi cách trong khả năng của mình để điều chỉnh vịêc giữ
gìn vệ sinh cho toàn thể gia đình, kể từ những vấn đề về thói quen ăn uống cho đến những hoạt động
thể chất, cả thể thao nữa.
Florence Arnold Richez
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu
Bác sĩ Lê Văn Phú và Lê Tú Anh biên dịch
Nhà xuất bản Y học ấn hành
Chương 2
Biểu đồ phát triển của trẻ thực sự là khí áp kế
Cậu bé hay cô bé cưng của bạn, trong giờ chơi ở sân trường hẳn đã bị các bạn nhỏ gán cho những
biệt hiệu đáng ghét… Và buổi tối về nhà, bạn sẽ thấy con mình cáu kỉnh, không màng đến học hành
nữa. Cháu bé biểu lộ ra mặt là không thích sinh hoạt ở trường nữa. Dĩ nhiên, cháu không hề nói cho
bạn rõ về tính cách của nó và bạn cứ ngỡ rằng cuối học kỳ cháu thường mệt mỏi nên cần được nghỉ
ngơi.
Thế rồi mùa hè đến, khi dẫn con đi bơi, bạn mới thấy con phô bày ra những ngấn thịt và khi thời tiết
xấu quay trở lại, những đường nét tròn trặn đó lại được che đi và bạn lại tự nhủ: rồi nó sẽ lớn lên và
người lại dài ra thôi mà!
Nhưng mà sinh lý của một con người, dù lớn hay nhỏ, không chỉ đơn thuần là sự dàn đều hay không
đều theo chiều dài hay chiều rộng của lớp mỡ trong cơ thể, được thích nghi dần khi thời gian qua đi,
giống như những đôi giầy càng đi càng mềm ra để rồi vừa khít đôi chân!
Chứng béo phì không biên giới!
Đôi khi bạn tự nhủ, không như trẻ em Mỹ, con ta không giống những chiếc sopha to bè, hay những
“củ khoai mập”. Khoảng 17% số trẻ em Mỹ bị béo phì, 5% béo quá mức, lúc nào cũng nhồi đầy
bụng những lạc mặn, kem đá, và soda đủ các màu. Bạn nghĩ con bạn cũng không giống như 21% số
trẻ em Đức, 11% trẻ em Bỉ và 15% trẻ em Italy cùng với các bạn nhỏ người Pháp là những đứa trẻ
quá ư phục phịch. Vậy mà đến nay, con của bạn rõ ràng đã vượt những người mẫu nhí đó.
Và xu hướng đó mang tính toàn cầu cho nên các quan chức của Tổ chức Y tế Thế giới đã dự định tổ
chức một lực lượng chuyên trách nhằm chuyển hướng tình hình. Bạn chớ vội yên tâm cho rằng đất
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
nước của bạn sẽ che chở cho mọi người khỏi phải chịu gánh nặng đó.
Tuy vậy, cũng không nên cho rằng khi chú bé trên bãi biển phải ngượng ngập vì thân hình tròn mập
là cháu đã được xếp vào “hàng” các đứa trẻ có bệnh.
Đừng vội nổi hiệu báo động hỏa hoạn khi chưa có lửa
Vậy bạn phải làm sao để tránh được những hiểm nguy do trung thực quá mức hay căng thẳng vu vơ
gây ra?
Bạn phải làm gì để nhận định cho đúng, xem xét con bạn có thật sự gặp nguy hay không và bạn có lý
không khi cảm thấy từ đáy lòng mình nhen lên nỗi lo sợ mà bạn chưa tiện nói ra?
Xin bạn đừng hoảng hốt. Trước hết, giờ đây người ta đã tìm ra những phương pháp, những biểu đồ
hay làm trắc nghiệm để đánh giá thể trọng của các cháu nhỏ, từ đó biết được các cháu có phải là quá
mập hay không. Và nhất là cần xác định xem có cần thiết phải hành động để sửa chữa một bẩm chất
tai hại hay những thói quen xấu. Nhưng bạn cũng nên biết rằng theo quy luật chung ngay từ khi con
bạn mới được 2-3 tuổi nếu thấy rõ cháu quá mập so với lứa tuổi, vượt ra ngoài giới hạn nêu trong
mục “cân nặng, chiều cao” trong y bạ, bạn nên nghĩ ngay đến khả năng cháu bị dư thể trọng. Nếu
không thì chẳng cần bận tâm trước khi cháu được 6 tuổi.
Bạn cũng nên biết rằng thầy thuốc sẽ chỉ định việc chữa trị, nghĩa là đề ra một chế độ ăn uống theo
yêu cầu của y học áp dụng cho bé gái ở khoảng 9 tuổi, và cho bé trai khoảng 10 tuổi… Nên biết rằng,
thực ra 80% số trẻ sẽ mắc chứng béo phì vẫn có thể trọng bình thường cho đến năm 2 tuổi, 59% cho
đến năm 4 tuổi và 25% cho đến năm 6 tuổi.
Vậy bạn đừng nên vô cớ cho rằng con bạn rồi đây sẽ béo phì giống như một số bậc cha mẹ khác.
Thực ra có thể con bạn chỉ tạm thời trông có vẻ hơi tròn trĩnh một tí thôi. Và nhất là bạn đừng nên
độc đoán bắt cháu ăn uống kiêng khem, bởi vì một đứa trẻ, ngay khi đã quá mập, vẫn có những nhu
cầu không thể giảm bớt cần cho sự tăng trưởng cả về thể chất lẫn tâm thần.
Cháu bé có lớn lên và mập ra ở mức bình thường không?
Trong thực tế, lần đầu khi đo cân nặng và chiều cao của cháu bé cho đến năm cháu 2 tuổi đòi hỏi độ
chính xác chỉ xê xích 10 g về trọng lượng và vài milimet về chiều cao thôi, sau này thì dung sai có
thể là 100 g và 0,5 cm. Điều nên làm là bạn cần theo dõi đều đặn cân nặng của con mình nhưng đừng
quá lo lắng: 2 lần một tuần trong tháng đấu, rồi mỗi tháng 1 lần cho đến tháng thứ 6; mỗi quý 1 lần
trong khoảng từ 1 đến 2 tuổi và ít nhất mỗi năm 2 lần sau 2 năm. Và cái chính là phải để tâm vẽ biểu
đồ về kết quả cân đo.
Đúng là việc làm đó không dễ dàng: lâu rồi nên quên đi cách vẽ giao điểm giữa hoành độ và tung độ
khiến bạn nhớ lại thời đi họ bỏ trốn các giờ học Toán! Cũng chẳng sao! Bạn hãy thường xuyên đưa
con đến thày thuốc để kiểm tra, để tiêm chủng vì cháu hay bị viêm mũi và họng; cuối mùa đông lại
bị viêm dạ dày – ruột. Mỗi lẫn khám, bác sĩ nhi khoa hay đa khoa đều cân, đo rồi ghi kết quả vào
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
phiếu cá nhân ghi trên giấy vẽ hay đưa vào máy tính, và còn ghi vào y bạn của cháu nữa. Bạn cũng
đừng nên e ngại yêu cầu bác sĩ hướng dẫn thêm, nhất là hỏi thêm về cách vẽ các đường cong, và
ngay cả nhờ bác sĩ làm giúp. Ông ta quen làm việc đó vì đó là một phần “nhiệm vụ” của ông. Ông sẽ
vui lòng làm thôi.
Bạn cũng có thể trao đổi với dược sĩ quen hay với cô nuôi dạy trẻ ở trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ em.
Họ chẳng muốn gì hơn là được giúp đỡ bạn.
Bạn đã biết rằng các kết quả được thể hiện bằng những “giá trị trung bình” và những biến động thể
hiện bằng độ chênh lệch so với thông số lập ra từ những công trình nghiên cứu trên một số đông trẻ
em. Người thày thuốc sẽ “định vị” cho con bạn dựa theo “chuẩn mực” đó, dựa theo giá trị trung bình
đó.
Cân nặng của cháu bé có tương xứng với chiều cao không?
Dĩ nhiên, đưa ra một “chuẩn mực” về cân nặng cho một độ tuổi trung bình – 5 tuổi, đưa ra một
“trọng lượng thích hợp với một chiều cao” chẳng có ích lợi gì vì con bạn có thể “nặng” hơn các bạn
học nhỏ của nó, nhưng cũng lại cao hơn chúng.
Do vậy từ nay, để đánh giá thể trọng của trẻ thừa hay thiếu, người ta thường khuyên sử dụng đường
biểu diễn cân nặng theo chiều cao (trọng lượng / chiều cao) của các cháu gái tính đến 10 tuổi và các
cháu trai tính đến 11,5 tuổi.
Trong thực tế, các bác sĩ nhi khoa thường dẫn ra những biểu đồ về sự tăng trưởng của cân nặng theo
chiều cao, được ghi trong y bạ và được trình bày dưới dạng đường cong trung bình có vẽ thêm đường
bao chỉ độ chênh lệch. Thật vậy, toàn bộ số trẻ em có thể được phân chia thành những “đơn vị thống
kê”: 95% số trẻ em Pháp nằm gọn trong hai “giới hạn” – 2 độ lệch tiêu chuẩn và + 2 độ lệch tiêu
chuẩn, nghĩa là giữa nhóm thứ 10 và nhóm thứ 90 trong các đơn vị thống kê. Một đường biểu diễn sự
phát triển về vóc dáng và cân nặng đều đặn trong cùng một dải phát triển và nằm giữa hai giới hạn
đó, xác định một miền phát triển “bình thường”. Giữa đơn vị thống kế thứ 90 và thứ 97 là có sự dư
thừa cân nặng. Quá giới hạn đó là sự béo phì.
Thật ra, điều bạn cần chú tâm chủ yếu là chiều hướng của biểu đồ của con bạn, với những điểm
dừng, những chỗ “trệch hướng”, hơn là chú ý vào những con số.
Sự tiến triển phi tuyến tính ở trẻ em
Nhà dịch tễ học người Pháp Fran†oise Rolland-Cachera đã xây dựng một biểu đồ theo dõi Chỉ số
khối lượng cơ thể (KCT) còn gọi là chỉ số về sự béo mập (tỷ số giữa số cân nặng bằng kg so với bình
phương của chiều cao) của đứa trẻ trong quá trình lớn lên, có tính đến sự phối hợp của 3 dữ kiện (cân
nặng, chiều cao và lứa tuổi). Chỉ số KCT tăng lên trong năm đầu của đứa trẻ, rồi giảm dần cho đến
năm lên 6. Đến tuổi đó, biểu đồ đi lên được gọi là bước nhảy vọt về tích mỡ. Nếu bước nhảy đó tăng
cao ở con bạn thì đúng là nguy cơ cháu trở nên béo phì khi lớn lên là cao hơn so với cháu bé khác.
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Bạn cần hết sức cảnh giác!
Ngoài ra, cái tuổi có bước nhảy đó cũng báo hiệu tuổi xương của con bạn. Điều này sớm thì điều kia
cũng tiến nhanh. Do vậy, những đứa trẻ béo phì thường cũng mau trưởng thành, các cô gái béo phì
thường có kinh nguyệt sớm hơn… và nếu cô con gái bé bỏng của bạn năm 9 tuổi đã có kinh nguyệt
thì cần tăng cường quan tâm đến cháu: tuổi dậy thì đến sớm là một nhân tố làm nguy cơ thừa cân
tăng lên. Vậy là dựa vào những biểu đồ KCT, người ta sẽ nhanh chóng đưa ra một định nghĩa có tính
toàn cầu về đứa trẻ béo phì. Có hai công trình nghiên cứu thực hiện tại Pháp cách nhau 30 năm
chứng tỏ tuổi của bước nhảy đã từ 6,3 xuống 5,6 tuổi tính trung bình, sát gần tuổi đó ở các cháu bé
Mỹ (5,3 tuổi).
Đúng ra, cần luôn tâm niệm rằng điều hoàn toàn bình thường là đứa trẻ có thân hình mũm mĩn vì trẻ
sơ sinh có 17% thể trọng là mỡ. Đến năm 1 tuổi, tỉ lệ đó tăng lên thành 25-30% (trẻ 1 tuổi bao giờ
cũng có cặp má đầy đặn), rồi tỷ lệ đó lại giảm dần từ 1 đến 6 tuổi (đứa trẻ trở thành mảnh khảnh). Từ
7 tuổi trở đi, tỉ lệ đó lại tiếp tục tăng nhất là đối với các cháu gái, đạt tới 23% khi cháu 15 tuổi.
Vậy là ngay từ năm thứ hai, khi cháu đã vượt qua giai đoạn “nhảy vọt lên phía trước”, bạn cần phải
tham vấn ngay, dè chừng cháu bị dư thể trọng, không nên đợi đến khi cháu đã “định hình” là một cậu
bé béo phì để rồi phải trải qua gian khổ, cháu mới nhìn lại được hình dáng và vị trí của nó giữa
chúng bạn.
Mảnh dẻ chưa hẳn đã là gầy
Cũng như người mập, người gầy đôi khi cũng “đánh lừa” thiên hạ. Các bậc cha mẹ, vì không lập
biểu đồ theo dõi sự phát triển cơ thể của con, nhiều khi thường lầm lẫn.
Với một đứa trẻ mảnh dẻ mà cha mẹ thường ngày vẫn thấy có dáng thon dài, ngoài ra cháu lại rất háu
ăn thì đừng nên lẫn lộn cháu với một đứa trẻ gầy.
Cũng vậy, cần phân biệt rõ giữa đứa trẻ có nhịp độ tăng trưởng đều đặn có cân nặng thấp hơn bình
thường một chút với đứa trẻ đã “phá bỏ” nhịp điệu và tốc độ tăng trưởng. Trong trường hợp này, sự
gầy đi, nhất là khi điều đó xảy ra đột ngột và kéo dài, khiến ta phải nghĩ tới sự không dung nạp thực
phẩm (chẳng hạn với gluten trong ngũ cốc, lúc đứa bé 6 tháng tuổi).
Nếu như độ trệch của biểu đồ ở mức cao hơn, thì đó là dấu hiệu về những bệnh lý nặng hơn, hiếm
hơn như chứng chán ăn… Cuối cùng, khá nhiều người gầy sút và người “gầy gò” sở dĩ nhẹ cân là bởi
mắc một chứng bệnh nhiễm trùng (ví dụ nhiễm trung niệu đạo mãn tính) hay một dị tật (về tiêu hóa,
về thận…).
Như vậy, nếu muốn nâng cao thể trọng, phải chẩn đoán bệnh và có cách ăn uống. Còn những đứa bé
được sinh ra sau thời kỳ chậm phát triển trong tử cung (CPTTTC) là đứa bé kém phát triển. Cần phân
biệt những bé chậm phát triển “cả ba kích thước” (vòng sọ, chiều cao, cân nặng), phải được chăm
sóc cẩn thận, đôi khi kéo dài trong nhiều năm, với những bé khác chỉ là quá bé nhỏ thôi. Nói chung,
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
các bé này chỉ sau vài tháng là bắt kịp “chuẩn mực” và sau 2 năm thì 89% các cháu này đã đạt chuẩn.
Ngược lại, 20% số cháu bé đã từng bị CPTTTC vẫn tiếp tục là những trẻ quá nhỏ và quá gầy. Dĩ
nhiên là phải dành cho các cháu này sự chữa trị bằng hormon tăng trưởng và phải sự theo dõi của các
chuyên gia khoa nhi – nội tiết trong thời gian tối đa 2-3 năm cho đến khi các cháu được 3 tuổi.
Còn đối với những cháu thực sự gầy yếu, phải chăm sóc cẩn thận, nếu cháu có ủ bệnh thì phải lo
chữa trị và cũng phải theo đúng những điều chỉ dẫn giống như hoặc gần giống như việc chăm sóc trẻ
quá mập: điều chủ yếu là không nên ép buộc cháu ăn uống, bởi vì có nguy cơ sẽ làm cho trẻ gầy yếu
có bước nhảy vọt sớm về tích mỡ và sinh ra béo phì trong tương lai. Nên cho cháu ăn mỗi ngày 4
bữa có đủ chất, tránh ăn vặt khiến bữa ăn chính mất ngon và sinh ra số calo vô ích.
Đèn đỏ
Khi quá trình phát triển của con bạn đã hoàn tất, để xác định mức độ béo mập của đứa trẻ, bạn có thể
dùng ngay những định mức áp dụng cho người lớn tuổi. Nếu chỉ số khối lượng cơ thể (KCT) từ 25
đến 29.9 thì đó là dư thể trọng bình thường; với KCT từ 30 đến 34,5 là béo mập vừa phải, KCT từ 35
đến 39,9 là béo mập nặng và với KCT vượt quá 40 là béo mập quá mức và bệnh hoạn.
Đối với trẻ em, sự dư thừa thể trọng liên quan đến sự dư thừa của khối mỡ, được xác định bằng sự
thừa cân so với chiều cao. Đứa trẻ coi là béo mập khi thể trọng vượt quá 120% cân nặng tương ứng
với chiều cao của nó, vượt quá hai độ lệch tiêu chuẩn về cân nặng so với chiều cao.
Chỉ số KCT không hề đả động đến trọng lượng, và dù sao đi nữa cũng không cho bạn rõ tỷ lệ giữa
khối lượng mỡ (ở sâu dưới da, nghĩa là bao quanh nội tạng) với khối lượng nạc, là điều cần biết thật
chính xác mới đánh giá được mức đánh giá được mức độ nghiêm trọng và nguy cơ béo phì của con
bạn.
Thật vậy, trẻ con và người lớn đều có điểm giống nhau: khối lượng mỡ càng lớn thì chứng béo phì
càng nghiêm trọng.
Do vậy, để lượng định được điều đó, thày thuốc phải vận dụng đến các biện pháp khác, nhưng chỉ
trong điều kiện ông ta đã dự đoán trước vấn đề, phân tích những đồ thị của con bạn và đã hỏi han để
nắm vững tiền sử gia đình bạn: hồi mới 8 tuổi, bạn có phải là người hơi to và thấp không? Và mẹ bạn
thế nào? Chồng bạn có luôn phải lo lắng về vấn đề nặng không? Anh em có ai bị bệnh tiểu đường
không? Chỉ sau khi đã kiểm tra những vấn đề có tính thủ tục đó, lắng nghe những băn khoăn lo
lắng của bạn, giải đáp các câu hỏi, giải thích về các đồ thị khác nhau, người thầy thuốc mới tính đến
việc đánh giá khối lượng mỡ của con bạn.
+ Đo các nếp da bằng compa
Việc đo này phải có thiết bị chuyên dùng và nhờ vào sự từng trải của một thầy thuốc có kinh nghiệm.
Dụng cụ đo là một compan đo độ dầy có khắc độ theo 4 mức nếp gấp: nếp gấp ở cánh tay (cơ 2 đầu,
3 đầu) nếp gấp ở lưng (vùng dưới vai), nếp gấp ở sường, phía trên khung chậu. Kết quả đo giúp cho
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
người thầy thuốc hình dung được tầm quan trọng của khối mỡ nằm dưới da. Đáng tiếc là lợi ích thu
được lại phụ thuốc vào hiểu biết và kinh nghiệm của thày thuốc, thường khác nhau. Hơn nữa, điều đó
không cho biết rõ về tỉ lệ của khối mỡ nằm sâu dưới da, là số liệu có vai trò quyết định trong các tai
biến về tim mạch.
+ Đo vòng eo tính ra centimet
Cần vận dụng các phép đo khác nữa như đo vòng eo để có chỉ số chắc chắn về khối mỡ nằm sâu dưới
da.
+ Đo sự chịu đựng của cơ thể đối với dòng điện.
Để có cơ sở hoàn thiện việc đánh giá chứng béo phì, người thầy thuốc có thể đo điện trở của cơ thể
khi cho một dòng điện xoay chiều cường độ vài trăm micrô ampe, hiệu thế vài von chạy qua là đại
lượng tỷ lệ với khối lượng nạc trong cơ thể, vì khối mỡ không dẫn điện. Người ta gọi phép đo đó là
đo trở kháng. Nhờ đó thầy thuốc có được khái niệm chính xác về cấu tạo cơ thể của con bạn và đánh
giá đúng sự chuyển hóa cơ bản của cháu. Và từ đó, thày thuốc sẽ điều chỉnh chiến lược điều trị, định
ra chế độ cho thật sát hợp.
Cũng còn có những phương pháp khác mới hơn, tinh vi hơn và khá tốn kém [nhờ cộng hưởng từ hạt
nhân, sự hấp thụ lưỡng quang điện tử (biphotonique)] mà hiệu quả còn đang được xem xét.
Nhưng thực ra, trước khi làm những thủ tục về chẩn bệnh thường do các bệnh viện tiến hành, điều
cần thiết là phải quan tâm theo dõi biểu đồ trong y bạ của con bạn, trong suốt thời kỳ phát triển của
cháu, chứ không phải là chỉ khi cháu còn ở nhà trẻ. Xin nhắc lại một lần nữa: 80% các cháu sau này
bị béo phì vẫn có thể trọng bình thường tính đến năm 2 tuổi, 50% tính đến 4 tuổi và 25% tính đến
năm 6 tuổi.
Làm thế nào để vẽ được biểu đồ về sự béo mập của trẻ em?
- Vừa cân thể trọng và đo chiều cao, tính chỉ số khối lượng cơ thể (KCT) ra kg/m2 = Trọng lượng/
(chiều cao)2.
- Ghi giá trị tìm được trên biểu đồ KCT (độ béo mập) trong y bạ vào cột đứng ghi tuổi của các cháu.
- Cho đến năm cháu 1 tuổi, sự tiến triển của đường cong biểu đồ thông thường nằm trong phần để
trắng. Đường con sẽ vươn cao đều đều vì đây là thời kỳ cháu bé tăng cân nhiều hơn tăng chiều cao.
- Từ 1 tuổi trở đi, đường cong thường hạ thấp dần độ cao cho đến năm cháu khoảng 6 tuổi. Các cháu
lớn nhanh hơn là tăng cân. Vậy là cháu có cơ thể thon thả hơn. Nếu đường cong lại vươn cao trong
khoảng từ 2 đến 6 tuổi, thì tôi phải nói điều đó với thầy thuốc (có bước nhảy vọt về tích mỡ sớm).
- Rồi đường cong lại tiếp tục vươn cao từ từ cho đến năm 12 tuổi.
Như vậy, với đơn vị thống kê thứ 97 thì KCT là khoảng 20 kg/m2 lúc 1 tuổi, 18 kg/m2 lúc 6 tuổi, 20
kg/m2 lúc 10 tuppir và 25 kg/m2 lúc 15 tuổi.
Thí dụ: Lena 6 tuổi, 19 kg với 1,10 m. Nhân chiều cao với chiều cao là 1,21 rồi chia trọng lượng của
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu Florence Arnold Richez
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
cháu, kết quả tìm được:
19: 1,21 = 15,70
Vậy chỉ số KCT của cháu là 15,70
Sự gia tăng trung bình về thể trọng của một trẻ sơ sinh cân nặng bình quân 3,250 kg (những con số
sau đây không tính đến sự khác biệt về giới tính, về chiều cao…) là:
- 4 tháng đầu, + 25 g/ngày, + 750 g/tháng = 6,250 kg sau 4 tháng.
Cân nặng lúc mới sinh tăng gấp đôi trong vòng 4 đến 5 tháng.
- Từ 4 đến 8 tháng: + 16 hay 17 g/ngày, + 500 g/ tháng = 8,250 kg sau 8 tháng
- Từ 8 đến 12 tháng: + 8 g/ngày, + 250 g/ tháng = 9,250 kg sau 9 tháng.
Cân nặng lúc mới sinh đã tăng gấp ba trong vòng 9 đến 10 tháng.
- Từ 1 đến 2 năm: + 8 g/ngày, + 250 g/tháng = 12,250 kg sau 2 năm.
Cân nặng lúc mới sinh đã tăng gấp bốn lần sau 2 năm.
- Sau 3 năm: 13,250 kg đến 14 kg.
- Sau 4 năm: 15 kg đến 16 kg.
- Sau 5 năm: Khoảng 18 kg.
Dư thể trọng/béo phì, phải chăng đó là vấn đề của những con số?
Định nghĩa thông dụng về sự béo phì dựa trên một chỉ số tương ứng với tỷ số giữa cân nặng tính
bằng kg với bình phương chiều cao (tính bằng mét).
Tỷ số đó gọi là Chỉ số khối lượng cơ thể (KCT) hay còn gọi là Chỉ số Quételet.
International Obesity Task Force (Lực lượng đặc nhiệm quốc tế chống béo phì), một hiệp hội gồm 75
chuyên gia thành lập năm 1975 dưới sự bảo trợ của Tổ chức Y tế Thế giới đã phân định các mức
KCT như sau:
- KCT dưới 18: trọng lượng quá nhỏ.
- KCT từ 18 đến 20: trọng lượng bình thường nhưng ở giới hạn dưới.
- KCT từ 18,5 đến 24,9: trọng lượng bình thường.
- KCT từ 25 đến 29,9: dư thể trọng.
- KCT từ 30 đến 34,9: béo phì vừa phải (độ 1).
- KCT từ 35 đến 39,9: béo phì nặng (độ 2).
- KCT trên 40: béo phì rất nghiêm trọng hay bệnh hoạn (độ 3).
Florence Arnold Richez
Trẻ em béo phì - nguyên nhân, cách phòng ngừa và trị liệu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét