Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Các nguồn vốn tích luỹ của nước ta

Tiểu luận tài chính Tiền tệ
LỜIMỞĐẦU
Vốn nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi
loại hình doanh nghiệp vốn phản ánh vốn phản ánh nguồn lực tài chính
được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Đáng chúý là nguồn vốn tích luỹ
trong các doanh nghiệp.
Dù là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân cũng cần
phải có vốn tích luỹ. Vốn tích luỹ là tiền đề của sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp. Vốn tích luỹ còn là một yếu tố vô cùng quan trọng
trong vốn đầu tư và vốn sản xuất của doanh nghiệp. Nó quyết định tới trình
độ trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ, máy móc, sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Song song với tầm quan trọng của vốn tích luỹ thì việc sử
dụng vốn tích luỹ trong sản xuất kinh doanh như thế nào đểđạt hiệu quả
cao chính là yếu tố quyết định tới sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp.
Chính vì vậy vấn đề quản lý và sử dụng vốn tích luỹ của doanh nghiệp
được coi là vấn đề then chốt, trọng điểm của công tác quản lý tài chính
doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể hoạt động được một cách hiệu
quả.
Nhận rõ tầm quan trọng của việc sủ dụng vốn cốđịnh trong doanh
nghiệp nhà nước, cùng với những kiến thức cơ bản của môn Tài Chính,em
đã chọn đề tài: “Các nguồn vốn tích luỹ của nước ta ”
Bài tiểu luận này phân tích đánh giá tình hình sử dụng vốn tích luỹ
trong các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua, nhằm mục đích tìm
ra các biện pháp tài chính nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tích luỹ.
Với chút hiểu biết ít ỏi của mình, em mạnh dạn xin được trình bày một sốý kiến
cá nhân mình. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề
tài này để bài viết hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn và trân trọng ý kiến
đóng góp.
1
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
PHẦNNỘIDUNG
CHƯƠNGI.CƠSỞLÝLUẬNCHUNGVỀCÁCNGUỒNVỐNTÍCHLUỸ
1.1. Khái niệm về vốn
Như chúng ta đã biết doanh nghiệp là chủ thể kinh tếđộc lập có tư cách pháp
nhân thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích tăng thêm
giá trị tài sản do mình sở hữu .Vốn là toàn bộ nguồn lực mà doanh nghiệp có thể có
cho quá trình đầu tư vào hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
.Trong tình hình hiện nay doanh nghiệp có vai trò chủđạo trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là hình thức mà doanh nghiệp tồn tại
là doanh nghiêp nhà nước liên doanh liên kết với doanh nghiêp tư nhân.Họ làm ăn
nhanh nhạy và hiệu quảđem lại bộ mặt phát triển cho Việt Nam.
Để tiến hành công việc sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư liệu sản
xuất và nhân công mà muốn có nó doanh nghiệp phải có vốn để trang trải cho hoạt
động của mình,ngoài vốn do chính chủ doanh nghiệp bỏ ra hoặc được bổ sungtùư
kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh .Ngoài ra để mở rộng sản xuất thì
doanh nghiệp có thể huy độn vốn nhàn rỗi từ dân cư,các tầng lớp xã hội qua các
kênh thu vốn
như ngân hàng,các tổ chứctín dụng,tư ngân sách nhà nước,từ nước ngoài.ở nươc ta
nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp cũng như nhiều nước kém hoặc đang phát triển,
thời kỳđầu đều phải dựa vào nguồn vốn nước ngoài, nước ta không thể là ngoại
lệ.Tất nhiên phải rất coi trọng tạo ra chính sách đối ngoại hữu hiệu và việc sử dụng
vay vốn có hiệu quả, có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
1.2.Vai trò của vốn
Vốn có vai trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất cho xã hội và tiến
bộ xã hội ,nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến
2
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
bộ khoa học kĩ thuật phát triển cơ sở hạ tầng , chuyển dịch cơ cấu vàđẩy mạnh tốc
độ kinh tế nhờđóđời sống nhân dân ngày càng một nâng cao ,các nguồn lực về con
người tài nguyên được khai thac hiệu quả hơn từđó tác động mạnh đến cơ cấu kinh
tế của đất nước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng công nghiệp hoá hiện
đại hoáđất nước.Đại hội Đảng IX đãđặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước
ta trở thành một nước công nghiệp tiến tới ra nhập các tổ choc thương mại
WTO,AFTA…và hội nhập thế giới.Để thực hiệnđược mục tiêu đóđòi hỏi sự nỗ lực
của toàn Đảng toàn dân ,mọi cá nhân mọi tổ choc trong nền kinh tế dặc biệt phải
nhấn mạnh vai trò chủđạo của doanh nghiệp, vấn đềđặt ra là phải sử dụng nguồn
vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất nhiều yêu cầu đặt ra là cac doanh nghiệp phải
đổi mới công nghệ tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao không những thế
vốn còn để tăng c iệp là phải huy động vốn việc này phụ thuộc vào chính sách huy
động vốn của nhà nước và khả năng của tong doanh nghiệp.Vì vậy doanh nghiệp
cần phải thực hiện tiết kiệm dồn tiền vào mở rộng sản xuất ở kì tiếp theo .
Ngày nay hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh thật đa dạng họ chủđộng
sản xuất kinh doanh trên môi trường ngày càng hoàn thiện họ hoạt động vì quyền
lợi thiết thực của bản thân họ .Doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất ngoài việc
đưa nguồn vốn tự có họ phải dụa vào nguồn lực từ nội bộ và tư bên ngoài doanh
nghiệp.
3
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
CHƯƠNGII.
LÀMRÕVẤNĐỀVỐNDOANHNGHIỆPTRONGNỀNKTTTĐỊNHHƯỚNGX
HCNỞNƯỚCTA.
2.1.Thực trạng của các doanh nghiệp nước ta hiện nay.Q
Quá trình hội nhập kinh tế buộc doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với
rấtnhiều khó khăn và thách thức . Điều cần thiết nhấy lắgn lion với việc thực hiện
lộ trình hội nhập cần phải xây dựng và thực hiện cho được một lộ trình nâng cao
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế .Phải xác định các công việc cụ thể cho từng
ngành ,từng giai đoạn ,đồng thời khẩn trương ban hành các chính sách biện pháp
cụ thể và tổ chức thực hiện triệt để kiên quyết nhằm thự hiện lộ trình đó .Nền kinh
tế thị trường hiện nay đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đồng
thời có thêm một số loại thị trường mới như thị trường chứng khoán ,thị trường lao
động ,thị trường khoa học công nghệ….
Về vốn đầu tư năm 2000 chính phủ và ngành ngân hàng đãđưa ra nhiều biện
pháp khuyến khích đầu tư vay vốn song tỷ lệ số doanh nghiệp có số vay ngân hàng
vẫn giữở mức là74% trong khi đó tỷ lệ doanh nghiệp đi vay từ nguồn khác tăng lên
63%.Đặc biệt đối với các doanh nghiệp tư nhân việc đi vay các nguồn vốn cho đầu
tư phát triển còn gặp nhiều khó khăn. Hoạt động xuất nhập khẩu hiện nay còn
nhiều bất cập về cơ chế xuất khẩu và chất lượng hoạt động nhất là những yếu kiện
trong việc ổn định thị trường thiếu linh hoạt và bịđộng trong việc xử lý giá,sản
phẩm có hàm lượng công nghệ cao chiếm tỷ trọng không đáng kể .Một vấn đề
quan trọng khác có liên quan đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp là chi phíđầu tư
vào chúng khá cao.Tính chung từ năm 1996 đến nay chi phíđầu tư vào tăng
32,42% trong khi tỷ lệ tăng giáđầu ra là 22,82% làm cho tỷ suất lợi nhuận bình
quân từ 16,8% xuống còn 6,2% thấp hơn xấp xỉ 2 lần so với các nước trong khu
vực và 3 lần so với Châu Âu .Vấn đề giá nông sản thấp thu nhập của nông dân
ngay càng thu hẹp mặt khác không kém phần quan trọng là các chi phíđầu vào
4
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
quá cao vềđiện ,xăng dầu ,phân bón, thuỷ lợi…mà trong thời gian qua chúng ta
quan tâm nhiều hơn đến các biện pháp bảo hộ xử lýđầu ra hơn là các biện pháp đầu
vào để chi phí sản xuất và bán hàng cho nông dân.Tất cả những điều đó làm cho
Việt Nam trở thành nơi đắt đỏ sức cạnh tranh của hang hoá trên thị trường giảm
dần ,các nhàđầu tư e ngại thêm chí một số nhàđâu tư lớn đã rời rút vốn khỏi tại
Viêt Nam …Vấn đè hiện nay hầu hết các chi phíđầu vào của doanh nghiệp đều liên
quan đến các ngành độc quyền nhưđiện,xăng dầu,hàng không…Trong thời gian
qua các ngành này đều tăng giá cao với nhiều lý do khác nhau ,trong đó có lý do
phải trả nợ vốn đầu tư .
Qua những con sốđiều tra cho thấy số doanh nghiệp nhà nước tăng lên đáng
kể ,tổng doanh thu hàng năm làm ra xấp xỉ 300 tỷđồng ,sự phân bổ doanh nghiêp
theo ngành hợp lý hơn ,tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh nghiệp nhà nước
gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế.Số doanh nghiệp làm ăn
có lãi chiếm 11,3% tổng doanh nghiệp trong đó 11,3% số doanh nghiệp nhà nước
69%số doanh nghiệp địa phương .Lãi thực hiện năm 1999 là 15271 tỷđồng .Đối
với doanh nghiệp tư nhân nhà nước ban hành luật công ty và luật doanh nghiệp
thìđến năm 1995 là 15276 doanh nghiệp vàđến năm 1999 thì số doanh nghiệp
thành lập là 30500 gấp 74lần so với năm 1991.Tổng vốn đầu tư năm 1991 là 6430
tỷđồng đén năm 2000 là 160000 tỷđồng .Khu vực kinh tế tư nhân có hầu hết trong
các ngành kinh tế quốc dân tỷ trọng % cúa khu vực tư nhân chiếm 22,44% khu vực
đầu tư nhà nước là 35,4% khu vực doanh nghiệp nhà nươc là 42,16% . Tuy nhiên
vẫn còn nhiều tồn tại phải khắc phục đó là số lượng doanh nghiêp nhà nước còn
nhiều , qui mô nhỏ,chồng chéo về hành nghề và tổ chức quản lí , sự phân bổ doanh
nghiệp theo vùng lãnh thổ còn chưa hợp lí . Còn tồn tại nhiều doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ phải giải thể hoặc sát nhập. Hiện nay có 1822 doanh nghiệp làm ă thua lỗ
chiếm 30,8% tổng số doanh nghiệp với số lãi luỹ kế là 5079 tỷđồng . Doanh
nghiệp còn bị ràng buộc bởi chếđộ bảo toàn và phát triển với điều kiện đi vay ngân
hàng ,chếđọ tiền lương tiền thưởng và các quyền lợi thiết thực của người lao động.
5
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
Đại hội Đảng IX đã khẳng định phải chú trọng phát triển các doanh nghiệp vưà và
nhỏ , chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu,tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực.Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự do cạnh tranh tìm kiếm thị trườngchuẩn
bị cho việc tham gia vào APEC,AFTA…các giải phát đề ra cho doanh nghiệp hiện
nay là hoàn chỉnh chính sách , pháp luật xây dựng môi trường kinh doanh ổn định ,
mở rộng thị trường trong nươc và ngoài nước,tăng cường các dịch vụ hỗ trợ các
doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp tư nhânphát triển ổn định và hiệu quả . Tuy
nhiên biện phát cơ bản vẫn là xuất phát tư nội lực của mỗi doanh nghiệp về sự
hưng thinh và phồn vinh của nước ta.
Để sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần có vốn đầu tư ban đàu và vốn tích luỹđể
mở rộng sản xuất kinh doanh. Vốn sản xuất kinh doanh hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau : nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay. Nguồn vốn chủ sở hữu biểu
hiện quyền sở hữu của người chủ về tài sản hiện nay của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp nhà nước thì nguồn vốn ban đầu có thể lấy từ ngân sách nhà nước,các công
ty liên doanh thì tham gia góp vốn. Đối với các công ty cổ phần thì nguồn vốn
được huy đông bởi các cổđông . Ngoài ra nguồn vốn có thể bao gồm các quỹ phát
triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Nguồn vốn vay
:nguồn vốn này rất cơ bản và chiếm tỷ lệđáng kể bởi nó không chỉ bổ sung cho
việc mở rộng sản xuất mà còn tạo điều kiện linh hoạt trong việc hoàn trả các khoản
nợ hết hạn và giảm số lượng vốn vay. Nguồn vốn này được hình thành từ việc vay
tín dụng ngân hàng dưới hình thức tín dụng ứng trước trong đó doanh nghiệp được
sử dụng trong thời gian nhất định ,doanh nghiệp có thể phải dùng thế chấp hoặc
không ding thế chấp.
Một hình thức vay nữa là phát hành trái phiếu : chỉ riêng doanh nghiệp nhà
nước ,công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu mới có quyền vay vốn bằng cánh
phát hành trái phiếu . Doanh nghiệp có thể vay bằng tín dụng thương mại đó là
hình thức vay lẫn nhau của các ngân hàng thương mại .
6
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
Tình hình vay vốn đầu tư trong doanh nghiệp còn nhiều hạn chế .Trước đổi
mới trong cơ chế quản lí kinh tế quan liêu bao cấp của một nền kinh tế chỉ huy
,Việt Nam không có thị trường tài chính . mọi nguồn lực đều tập trung vào tay nhà
nước để phân phối theo từng kế hoạch đầu tư và từng doanh nghiệp. Những năm
đổi mới đãđem lại hiệu quả rõ rệt .Trong năm 1991-1995 ước tính huy động vốn
đầu tư là 15 đén 16 tỷ USA , trong đó phần của nhà nước chiếm khoảng 43% bao
gồm cảđầu tư từ ngân sách nhà nước , tín dụng đầu tư nhà nước. Doanh nghiệp nhà
nước tựđầu tư thì phần vốn nước ngoài chiếm khoảng 37% ,đầu tư của tư nhân
chiếm khoảng 20% . Đầu tư của các doanh nghiệp được hình thành và hoạt động
có hiệu quả phần lớn ở quy mô vừa và nhỏ nhưng có một số doanh nghiệp tư nhân
ở quy mô lớn. Thực tế nguồn vốn mà các doanh nghiệp đã tích luỹ kháđa dạng và
phong phú .Việc doanh nghiệp làm ăn phát đạt đã tạo cho thị trường tài chính của
họ trở nên mạnh mẽlà tiền đềđể cho việc tích luỹ mở rộng sản xuất . Mặt khác đáp
ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp đã sử dụng các công cụ huy động đạt hiệu
quả cao đó là việc các doanh nghiệp vay lẫn nhau song tỷ lệ này chỉ chiếm tỷ lệ
nhỏ . Thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng là thị trường vốn chủ yếu cho
tình hình hiện nay và cóý nghĩa đặc biệt đối với các doanh nghiệp . Hệ thống ngân
hàng huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế và tiền gửi của dân cư thông qua hệ
thống các quỹ tiết kiệm và các hợp tác xã tín dụng.Thị trường trái phiếu và cổ
phiếu là hiện tượng mới ở Việt Nam . Đây cũng là bước khởi đầu mới cho việc lập
thị trường chứng khoán . Công cụ này cũng được doanh nghiệp sử dụng trong việc
huy động vốn đầu tư. Trái phiếu và cổ phiếu công ty do các doanh nghiệp dược cổ
phần hoá phát hành song các công ty này có số vốn nhỏ .Một hình thức tư nhân
hoá một phần vốn của doanh nghiệp bằng cách phát hành và bán cổ phiếu ,hình
thức khác là giữ nguyên vốn của doanh nghiệp nhà nước nhưng phát hành cổ phiếu
để huy động thêm , cho tới nay mới chủ yếu là hình thức đầu thực hiện . Con số cụ
thể của viện quản lý Kinh Tế TƯđến năm 1998 tổng số vốn đầu tư là 1299 tỷđồng
chiếm khoảng 16% doanh nghiệp do địa phương quản lý là6800 tỷđồng chiếm
7
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
84% phân theo thành phần doanh nghiệp thì doanh nghiệp quốc doanh tổng số vốn
đầu tư 589 dựán số vốn đầu tư là 6781 tỷđồng chiếm 83%, doanh nghiệp dân
doanh tổng số dự an là 374 dựán huy động là 1325 tỷđồng chiếm 17%. Cho đến
năm 2000 tổng số vốđầu tư của doanh nghiệp quốc doanh là 5323 tỷđồng của
doanh nghiệp dân doanh là 7173 tỷđồng .
Vốn nước ngoài cóảnh hưỏng trực tiếp và là cơ sở của các doanh nghiệp.Theo
con số của uỷ ban Nhà nước về hợp tác vàđầu tư trong năm 1988-1995 nước ngoài
(FDI) tổng cộng là 18464 triệu$ vốn đầu tưđăng ký là 5863 triệu $,vốn đầu thực
hiện viện trợ chính thức phát triển ODA cho Việt Nam bình quân mỗi năm đạt
khoảng 480 triêu$.Thực tế những năm qua cho thấy tiềm năng vốn từ nước ngoài
tuy vốn lớn ,nhưng việc khai thác và sử dụng còn nhiều bất cập,việc phân bố các
dựán ODA dần trả theo thời gian thẩm định kéo dài ảnh hướng không nhỏđến tình
hình thực tế . Khối lượng vốn nước ngoài tăng nhanh ,đã có hàng ngàn doanh
nghiệp và nhàđầu tư của 62 nước ở Việt nam. Ngày càng có nhiều tập đoàn lớn có
năng lực tài chính và công nghệ cao đến đầu tư tại Việt Nam , qui mô vốn đầu tư
bình quân tương đối lớn trong đó có các dựán đầu tư lên tới hàng trăm triệu USA .
Xây dựng được một số cơ sở công nghệ cao như dầu khí ,thông tin viễn thông điện
tử cao cấp tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá -
hiện đại hoá. Các dựán có vốn đầu tư nước ngoài đã trực tiếp tạo ra 300 ngàn việc
làm mới tạo ra hơn một triệu việc làm trong các ngành xây dựng và dịch vụ
khác,phần nữa tạo điều kiện kích thích đào tạo các cán bồ kỹ thuật ,các bộ quản lý
và công nhân lành nghề.Đạt dược những kết quảđó không phải không còn nhiều
hạn chế . Việc vay vốn đầu tư ngân hàng của doanh nghiệp đòi hỏi quá nhiều giấy
tờ thậm chí nhiều ngân hàng còn từ chối việc cho vay với lý do là khách hàng mới .
Chính vì vậy doanh nghiệp phải sử dung các nguồn vốn ngoài ngân hàng tính rủi
ro cao,lãi suất lớn hoặc gian dối với cán bộ ngân hàng để vay vốn hậu quả là doanh
nghiệp đầu tư trong tình trạng bất ổn định, thiếu chắc chắn , kém hiệu quả thậm
chíđã gây ra một số vụđổ bể gây thiệt hại cho xã hội . Từ chính sách đến thực tế
8
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
còn một khoảng cách lớn và các biện pháp đầu tư các cam kết vềđổi mới thủ tục
hành chính trong lĩnh vực này vẫn chưa được thực hiện là bao nhiêu . Khu vực
quốc doanh vẫn được khuyến khích đầu tư hơn khu vực dân doanh , đầu tư mới
vẫn được khuyến khích hơn đầu tư mở rộng mặc dù về mặt kinh tếđầu tư mở rộng
có tác dụng trực tiếp tăng hiệu quả nền kinh tế , tăng qui mô vốn cá biệt. Thị
trường chứng khoán ở giai đoạn hiện nay đãđược hình thành vàđã hoạt động được
một thời gian nhưng hầu hết các công ty sử dụng việc phát hành chứng khoán để
huy động vốn nguyên nhân là do các doanh nghiệp chỉ huy động vốn dưới hình
thức này khi mà họ cần mở rộng qui mô lớn , việc phát hành chứng khoán phải qua
nhiều thủ tục giấy tờ. Trong nội bộ công ty họ vẫn không muốn chia sẻ quyền sở
hữu và quyền kiểm soát cho các cổ công. Về vốn để huy động vốn nước ngoài thực
sự chưa đem lại hiệu quả .Trứơc hết khối lượng vốn đầu tư thực hiện của FDF
trong năm 2001 có biểu hiện chững lại theo ước tính của Bộ kế hoạch vàđầu tư con
số này chỉđạt 2,2 tỷ USA tăng khoảng 3,2% so với năm 2000 , khá thấp so với năm
1994 trở lại đây. Ước tính trong năm 2001 chỉ có khoảng 40 dựán quy mô vừa và
nhỏ hoàn thành việc xây dựng cơ bản , bắt đầu đi vào sản xuất kinh doanh . Trong
hình thức đầu tư BOT nơi tập chung khá nhiều dựán lớn mới đạt 3%. Đặc biệt tình
trạng không chấp hành nghiêm chỉnh chếđộ thống kê báo cáo tình hình cơ sở và
những ách tắc trong việc triển khai dựán do còn nhiều vướng mắc trong kinh doanh
. Với phát triển ODA việc công tác quản lý và sử dụng chưa tốt nhất là khâu chuẩn
bị và tổ chức thực hiện . Vốn ODA khong được hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho
các chương trình đặc biệt . Khó khăn chung cho việc huy động vốn nước ngoài
chủ yếu là do chính sách hai giá và việc áp dụng nhiều loại phí khác nhau giữa đầu
tyư trong nước vàđầu tư nước ngoài nhất là các cước hàng không phíđiện quảng
cáo đang là trở ngại lớn cho việc thu hút vốn. Cân đối ngoại tệ cho các dựán đầu
tư nước ngoài đang là vấn đề nổi lên nhiều dựán triển khai sớm nhằm vào thị
trường trong nước , khả năng đáp ứng ngoại tệ của các ngân hàng thương mại hạn
chế nhất là thời điểm cuối chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
9
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
2. Vấn đề sử dụng vốn hiệu quả
Giờ vấn đề tiết kiệm đặt lên hàng đầu , tiết kiệm trong sinh hoạt hàng ngày của
chủ thể doanh nghiệp ở các ban ngành cơ quan . Tiết kiệm trong mọi cơ quan của
quá trình sản xuất là rất cần thiết bởi nó quyết định trực tiếp đến sự phát triển và
mở rộng sản xuất vì vậy vấn đề là làm sao tiết kiệm trở thành một khẩu hiệu
phương châm cho mọi doanh nghiệp vì một cuộc sống trong tương lai sẽ trở nên
đầy đủ và hạnh phúc hơn nữa. Việc xây dựng cơ sở sản xuất và mua sắm trang
thiết bị phải được sự cân nhắc kỹ càng bởi vì khi một quyết định trong đầu tư
không phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí gây thất thoát tài sản, các doanh
nghiệp cần phải xem lại bộ máy hành chính và bộ máy hoạt động. Tránh tình trạng
cồng kềnh dườm dà ,chồng chéo lên nhau cản trở việc thực hành tiết kiệm . Yêu
cầu đặt ra cho các doanh nghiệp là phải phân bố một cách hợp lí giữa tiêu dùng và
tích luỹ . Nhận thấy vai trò của tiết kiệm đối với sự phát triển để trở thành phong
trào thúc đẩy quá trình tích tụ vào tập trung vốn để phát triển bền vững . Trong các
dựán đầu tư doanh nghiệp phải lựa chọn các dựán và phương án sản xuất kinh
doanh khả thi có hiệu quả biểu hiện ở chỗ doanh nghiệp có thể hoàn trả nguồn vay
phù hợp với thời gian vay đây là bài toán khóđối với các doanh nghiệp vì trong
quá trình ản xuất rất nhiều những sai xót hoặc đổ vỡ xảy ra. Viêc phân bố hiệu quả
thể hiện ở chỗ nhà doanh nghiệp đổi mới công nghệ thúc đẩy cho việc sản xuất ,
doanh nghiệp tự tìm tòi nghiên cứu đầu tư tài lực ,trí lực để nghiên cứu tạo ra
những tư liệu lao động kỹ thuật hiện đại có khả năng tạo ra năng suất cao. Hơn nữa
thông qua chuyển giao mà công nghệ có thể di chuyển giữa các quốc gia ngày
nay ,xu hướng hội nhập tạo điều kiện cho hoạt đọng này trở nên thuận lợi và dễ
dàng . Để thuận lợi cho quá trình đầu tư doanh nghiệp nên tiến hành các loại quỹ
tiết kiệm nguồn vốn này cho doanh nghiệp có thể sử dụng ngay khi cần thiết hoặc
để dùng góp vốn kinh doanh ,mua cổ phần hoặc trái phiếu của các công ty cổ phần
khác.
10
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn , các doanh nghiệp phải tìm biện pháp tích cực
để có thể dựa vào sử dụng hoặc bán số tài sản , vật tư hiện ứđọng , chậm luân
chuyển. Đối với những tài sản ,vật tư kém hoặc mất phẩm chất, kỹ thuật lạc hậu
tồn đọng nhiều năm , nhưng không thể sử dụng được nữa thì doanh nghiệp thực
hiện thanh lý , nhưng phải thực hiện đúng các nguyên tắc quản lý tài chính , bảo vệ
môi trường không để thất thoát . Các khoản chênh lệch do thanh lý tài sản hạch
toán doanh nghiệp theo chếđộ hiện hành . Trường hợp doanh nghiệp thanh lý tài
sản mà bị lỗ không có khả năng bùđắp thì Bộ tài chính xem xét để hạch toán giảm
vốn. Bộ tài chính hướng dẫn kiểm tra thực hiện thanh lý tài sản hiện vật của doanh
nghiệp đảm bảo tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, vừa quản lý dược chống thất
thoát vốn và tài sản . Các khoản nợ khóđòi của doanh nghiệp , doanh nghiệp cần
tiến hành bùđắp bằng dự trữ quỹđồng thời tiến hành rút kinh nghiệm khắc phục
những sai lầm này Khâu mà doanh nghiệp quan tâm là quản lí các vốn lưu
động ,vốn cốđịnh sao cho đạt hiệu quả tránh sử dụng lãng phí và gây thất thoát
muốn vậy doanh nghiệp cần tiến hành đối với vốn cốđịnh là vốn do tính chất lớn
sử dụng trong thời gian dài nên cần phải thực hiện nguyên tắc khấu hao . Doanh
nghiệp phải xem xét tình hình tiêu thụ sản phẩm do tài sản cốđịnh đó chế tạo ra và
xem xét hao mòn vô hình của tài sản cốđịnh ,xem xét nhiệm vụđầu tư cho tài sản
cốđịnh . Vốn lưu động doanh nghiệp sử dụng các biện pháp tính chỉ tiêu vòng quay
của vốn , thời gian vật dụng các nguyên vật liệu…Nhìn chung doanh nghiệp cần
phải đổi mới các công tác như quản lýđầu tư xây dựng cơ bản ,đổi mới quản lý vốn
vay dài hạn ,xác định vốn yêu cầu hợp lý, ban hành cơ chế quản lý công nợ thực
hiện các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn .Xây dựng chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp : xây dựng cơ chế tài chính , nâng cao sức cạnh tranh hiệu quả sử
dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp tiến hành
quản lý chặt chẽđạt hiệu quả cao.
3.Các giải pháp tăng tích luỹ.
11
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
Thị trường vốn nước ta phát triển làđiều kiện cho quá trình tích luỹ vốn của các
doanh nghiệp . Để có nguồn vốn cho phát triển chúng ta cần tiến hành khai thác tối
đa các nguồn lực trong nước mang tính quyết định : vốn ngân sách nhà nước,vốn
tín dụng nhà nước , vốn của các doanh nghiệp , vốn trong dân cưđồng thời khai
thác và phát huy khả năng tranh thủ vốn ở nước ngoài mang tính quan trọng.
Nguồn vốn tín dụng của tổ chức tài chính quốc tế HDF,AHB…các nguồn vốn trực
tiếp từ nước ngoài ,việc huy động vốn trong thời gian tới phải đảm bảo các mục
tiêu đồng bộ , đa dạng hoá các công cụ hình thức bay vốn nhằm thu hút khơi dậy
tiềm năng phát triển kinh tế , sử dụng vốn có hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển nội
lực . Thực hiện nội dung này đòi hỏi chúng ta phải linh hoạt phù hợp với điều kiện
kinh tế xã hội của đất nước trong thời kìđể phát triển kinh tế do đó phải có chính
xác cơ chế ,giải pháp huy động vốn thích hợp . Vấn đề huy động vốn trong nước ,
bắt đầu từ vốn trong dân cư ,đểđưa nguồn vốn trong dân cư vào dòng chảy của đầu
tư phát triển phải tạo lòng tin cho nhân dân bù vốn vào đầu tư phát triển vì tiềm lực
trong dân cư là rất lớn . Vì vậy nhà nước cần phải ổn định lãi suất , tiền tệ và hệ
thống pháp luật có chính sách làm giàu chính đáng. Muốn vậy phải đa dạng hoá
các hình thức huy động vốn để mọi người dân ở bất cứ thời điểm nào có cơ hội bỏ
vốn phát triển . Tăng lãi suất tiết kiệm khuyến khích sử dụng tài khoản cá nhân
thực hiện thanh toán tiền gửi ở bất kì nơi nào có thể hiện đại hoá thanh toán tín
dụng điện tử . Tạo môi trường đầu tư thông thoáng thực hiện qui định của pháp
luật để tăng lượng vốn đầu tư. Cụ thể khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh
tếđầu tư trực tiếp để sản xuất kinh doanh nhất làđầu tư trong các lĩnh vực và các
vùng ưu tiên bổ sung , sửa đổi chính sách đầu tư , đơn giản hoá quy chếđầu tư
trong nước theo hình thức kinh tế chuyển giao , tạo khuôn khổ pháp lí cho các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế , góp vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng , các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế vàđiều kiện thuận lợi khi thực
hiện các dựán xây dựng kinh doanh chuyển giao BOT . Mở rộng nhiều hình thức
huy động vốn chuyển tiền vềđầu tư . Tiếp tục phát hành công trái , xúc tiến thành
12
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
lập các cơ sở chứng khoán với quy mô phù hợp . Ban hành các văn bản cụ thể quy
định hình thức huy động vốn và sử dụng nguồn vốn thích hợp để có hiệu quả tránh
lãng phí .
Huy động vốn nước ngoài mục tiêu chú trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp ở
nước ngoài đồng thời mở rộng các hình thức tín dụng tài trợ với lãi suất ưu tiên
dài cho các lĩnh vực đầu tư có hiệu quả , quản lý và sử dụng vốn đúng hiệu
quảđúng mục đích sử dụng nhằm đưa uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế .
Các giải pháp bao gồm : nhận thức đúng vai trò thực tế của vốn và công nghiệp
nước ngoài đối với công nghiệp hoá hiện đại hoáđất nước , tạo môi trường ổn định
và thuận lợi đểđầu tư từ nguồn vốn FDI và ODA . Phát hành trái phiếu của chính
phủ và doanh nghiệp nhà nước ra thị trường thế giới , đa dạng các nguồn vốn tài
trợđể phát triển nhiều ngành . Giải quyết chấm dứt nợ cũđể vay thêm đầu tư cho cơ
sở vật chất . Đối với các nguồn vốn cần khắc phục sự yếu kém chậm trễ trong việc
thẩm định dựán ,đấu thầu…nhằm thúc đẩy nhanh quá trình giải ngân và nâng cao
hiệu qủa sử dụng vốn. Đối với đầu tư trực tiếp FDI cần khẩn trương thực hiện luật
đầu tư nước ngoài , hết sức quan tâm cải thiện môi trường cả về công cụ vĩ mô và
xoá trở ngại cho các nhàđầu tư nước ngoài .
Các nguồn tích luỹ vàđầu tư trong nước và nước ngoài cho nền kinh tếở Việt
Nam chỉ có tác động tới các doanh nghiệp muốn đẩy mạnh quá trình tích luỹ cho
các doanh nghiệp cầc có biện pháp khác nhau để thu hút và sử dụng vốn . Đối với
nguồn huy động và tích luỹ từ nội bộ các doanh nghiệp cần phải thực hành tiết kệm
. Tiết kiệm phải nhằm vào các đối tượng phù hợp nhất là tiết kiệm trong chi tiêu
mua sắm các dịch vụđắt tiền gây lãng phí , Tiết kiệm thời gian nguyên vật liệu ,
đặc biệt doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược hoạt động kinh doanh đểđảm bảo
doanh thu ngày càng mạnh , tìm các biện pháp tiết kiệm chi phí tăng lợi nhuận.
Đồng thời cải tiến công tác quản lý phân tích tình hình tài chính tham mưu giúp
lãnh đạo donh nghiệp chỉđạo sát thực tếđểđảm bảo hoạt động sản xuất kiinh doanh
ngày càng hiệu quả . Các loại rủi ro bất thường mang tính chất bất khảkháng như
13
Tiểu luận tài chính Tiền tệ
thiên tai , hoả hoạn…gây mất vốn , doanh nghiệp phải mua bảo hiểm tài sản để khi
có rủi ro bị mất vốn sẽđược bùđắp bằng tiền bồi thường , từ các công ty bảo hiểm.
Đối với việc mất tài sản từ các nguyên nhân khác phải xác định rõ nguyên nhân
quy trách nhiệm cá nhân, tập thểđể xử lý theo qui định . Đối với các trường hợp
công nợ khóđòi , không thu hồi được phải giảm các đầu tư ngắn hạn ( cổ phiếu ,
trái phiếu ngắn hạn mà doanh nghiệp đã mua). Giảm giá hàng tồn kho doanh
nghiệp phải hạch toán và chi phí kinh doanh bằng cách trích dự phòng . Đối với rủi
ro tỷ giá dược coi là bất khả kháng đối với các doanh nghiệp do đó cũng cần có
một cơ chếđểđối phó với sự thay đổi này . Những rủi ro mất vốn do chủ quan, phần
thiệt hại sau khi bắt bồi thường thu hồi phế liệu thì phải lấy lợi luận sau thuếđể
bùđắp. Về thu hút vốn của các doanh nghiệp : doanh nghiệp có thể vay vốn từ các
ngân hàng thương mại , ngân sách nhà nước dưới hình thức tín dụng ngân hàng
hoặc tín dụng thương mại. Song để việc huy động vốn này doanh nghiệp cần phải
có những điều kiện ràng buộc nhất định như cần có tài sản thế chấp hoặc được bảo
lãnh bằng tài sản , gần đây ngân hàng nhà nước đã có hình thức vay tín chấp nhưng
doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp cần phải cóđầy đủđộ tin cậy . Doanh nghiệp
cần phải hoàn chỉnh giấy tờ về mặt pháp lýđể huy động trở nên đơn giản , một điều
quan trọng nữa là donh nghiệp cần phải làm ăn hiệu quả phù hợp với qui định của
luật pháp , chứng minh công việc kinh doanh của mình là có lãi và dự báo thuận
tiễn về nhu cầu và biến động thị trường . Xu hướng hiện nay là cácdoanh nghiệp
cần phải hoàn thành thủ tục giấy tờđể tham gia vào thị trường chứng khoán , có thể
nói dưới hình thức này có thểđem lạicho doanh nghiệp khả năng thu hút vốn cao và
nhanh chóng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét