Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Hoàn thiện hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại xí nghiệp Hà Nội

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
toàn bộ chi phí đợc chia làm 3 loại :
+ Chi phí sản xuất kinh doanh : Bao gồm những chi phí liên quan
đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh
doanh .
+ Chi phí hoạt động tài chính : Gồm những chi phí liên quan đến
hoạt động về vốn và đầu t tài chính .
+ Chi phí bất thờng : Gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do
chủ quan hay khách quan mang lại .
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí đợc chính xác,
phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và xác định kết quả của
từng hoạt động kinh đúng đắn cũng nh lập Báo cáo tài chính nhanh
chóng, kịp thời.
Phân loại theo yếu tố chi phí (theo nội dung kinh tế):
Theo cách phân loại này, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao gồm những chi
phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở
lĩnh vực sản xuất nào, ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí nh
thế nào .Theo quy định hiện hành ở Việt nam, toàn bộ chi phí đợc chia
làm 7 yếu tố :
+ Yếu tố nguyên liệu, vật liệu : Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng
vào sản xuất - kinh doanh (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập
lại kho và phế liệu thu hồi).
+ Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh
doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
+ Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng : Phản ánh tổng số
tiền lơng và phụ cấp mang tính chất lơng phải trả cho toàn bộ CNVC.
+ Yếu tố BHX, BHYT, KPCĐ : Phản ánh Phần BHX, BHY, KPCĐ
trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng và phụ cấp lơng phải trả
CNVC.
+ Yếu tố khấu hao TSCĐ : Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải
trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD trong kỳ.
+ Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài : Phản ánh toàn bộ chi phí dịch
vụ mua ngoài dùng vào SXKD .
+ Yếu tố chi phí khác bằng tiền : Phản ánh toàn bộ chi phí khác
bằng tiền cha phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất
kinh doanh trong kỳ .
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế có tác dụng cho biết kết
cấu, tỷ lệ trong từng loại chi phí mà Doanh nghiệp đã chi ra trong hoạt
động sản xuất kinh doanh để lập bản thuyết minh Báo cáo tài chính
(Phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố) phục vụ cho yêu cầu
thông tin và quản trị Doanh nghiệp để phân tích tình hình dự toán chi
phí, lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản
phẩm :
Việc phân loại chi phí theo cách này cho phép ta thấy đợc ảnh h-
ởng của từng loại khoản mục đến kết cấu của giá thành sản phẩm, đồng
thời nó cũng cung cấp những thông tin cần thiết để xác định hớng và
biện pháp hạ giá thành sản phẩm .Các khoản mục chi phí đợc quy định
thống nhất trong từng ngành kinh tế .
Theo quy định hiện hành, giá thành sản xuất (giá thành công xởng)
ở Việt nam bao gồm 3 khoản mục chi phí :
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Phản ánh toàn bộ chi phí về
nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào việc chế
tạo, sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ .
+ Chi phí Nhân công trực tiếp : Gồm tiền lơng phụ cấp lơng và các
khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lơng
phát sinh .
+ Chi phí sản xuất chung : Là những chi phí phát sinh trong phạm
vi phân xởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp).
Ngoài ra khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm toàn bộ (giá thành
đầy đủ) thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí Bán hàng
và chi phí quản lý Doanh nghiệp .
Việc phân loại chi phí sản xuất theo cách này có ý nghĩa hết sức
quan trọng .Nó giúp cho Doanh nghiệp quản lý đợc chi phí theo từng
loại sản phẩm, từng khu vực sản xuất, từng loại chi phí sản xuất .Từ đó
giúp cho việc phân tích hoạt động kinh doanh trong Doanh nghiệp có
hiệu quả .
Cách phân loại này phù hợp với các nguyên tắc và thông lệ có tính
phổ biến của kế toán ở một số nớc phát triển trên thế giới .Bên cạnh tác
dụng tạo điều kiện đễ dàng thuận lợi cho quản lý chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm, phân loại chi phí sản xuất theo cách này sẽ góp
phần quốc tế hoá hệ thống kế toán của nớc ta tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình hợp tác với các nớc trên thế giới đẩy nhanh tiến trình đổi mới
của đất nớc .
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phân loại theo chức năng trong sản xuất kinh doanh :
Dựa vào chức năng của các hoạt động trong quá trình kinh doanh
và chi phí liên quan đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí
sản xuất kinh doanh làm 3 loại :
+ Chi phí sản xuất : Gồm những chi phí phát sinh liên quan đến
việc chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xởng .
+ Chi phí tiêu thụ : Gồm tất cả các chi phí phát sinh liên quan đến
việc tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá, lao vụ
+ Chi phí Quản lý : Gồm những chi phí quản lý kinh doanh, hành
chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt động của
Doanh nghiệp .
Cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành sản xuất, xác
định trị giá hàng tồn kho, phân biệt đợc chi phí theo từng chức năng
cũng nh căn cứ để kiểm tra, kiểm soát và quản lý chi phí .
Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí :
Toàn bộ chi phí kinh doanh đợc chia thành chi phí sản phẩm và chi
phí thời kỳ .
+ Chi phí sản phẩm : Là những chi phí gắn liền với các sản phẩm
đợc sản xuất ra hoặc đợc mua .Chi phí sản phẩm chỉ thu hồi khi sản
phẩm đợc tiêu thụ .Khi sản phẩm cha tiêu thụ đợc thì những chi phí này
nằm trong các đơn vị sản phẩm tồn kho .Chi phí sản phẩm gồm : chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung.
+ Chi phí thời kỳ : là những khoản chi phí phát sinh trong kỳ hạch
toán, vì thế chi phí thời kỳ có ảnh hởng đến lợi nhuận của kỳ chúng phát
sinh .Chi phí thời kỳ không phải là những khoản chi phí tạo thành thực
thể của sản phẩm hay nằm trong các yếu tố cấu thành giá vốn của hàng
mua vào mà là những khoản chi phí hoàn toàn biệt lập với quá trình sản
xuất sản phẩm hoặc là hàng hoá mua vào. Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi
phí bán hàng và chi phí quản lý Doanh nghiệp.
Phân loại theo quan hệ giữa chi phí với khối lợng công
việc, sản phẩm hoàn thành:
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời
làm căn cứ để ra quyết định kinh doanh thì chi phí lại đợc chia thành :
Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp .
+ Biến phí : Là những chi phí thay đổi về tổng số, và tỷ lệ so với
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
khối lợng công việc hoàn thành .Biến phí có 3 đặc điểm :
-Biến phí đơn vị sản phẩm ổn định, không thay đổi
-Tổng biến phí thay đổi khi sản lợng thay đổi
-Biến phí bằng 0 khi không có hoạt động
Biến phí bao gồm các khoản chi phí sau đây :
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
-chi phí nhân công trực tiếp
-Một bộ phận chi phí sản xuất chung : Nguyên vật liệu phụ, lao
động gián tiếp, động lực lao động công cụ nhỏ, chi phí về nguyên liệu .
+ Định phí : Là những chi phí không đổi về tổng số so với khối l-
ợng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi
phí thuê mặt bằng, phơng tiện kinh doanh Tuy nhiên nếu trong kỳ có
sự thay đổi về khối lợng sản phẩm sản xuất thì chi phí cố định trên một
đơn vị sản phẩm sẽ biến động tơng quan tỷ lệ nghịch với sự biến động
của sản lợng .
+ Chi phí hỗn hợp : Bao gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí .ở
mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định
phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí .
Chi phí hỗn hợp bao gồm những khoản chi phí nh : Chi phí điện
thoại,chi phí sử dụng điện nớc, chi phí bảo dỡng máy móc thiết bị, chi
phí nguyên vật liệu gián tiếp .Chỉ có chi phí sản xuất chung mới có đặc
điểm của chi phí hỗn hợp .
Việc phân loại chi phí theo cách này có tác dụng to lớn đối với
quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra
quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả
kinh doanh .
Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất :
+ Chi phí trực tiếp : Là những chi phí tự bản thân chúng có quan
hệ trực tiếp tới quá trình sản xuất và có thể chuyển trực tiếp cho sản
phẩm hoặc đối tợng chịu chi phí .
+ Chi phí gián tiếp : Là những chi phí chung, không phân định đợc
cho từng đối tợng nên cần phải phân bổ.
Mỗi cách phân loại chi phí đều có ý nghĩa riêng đồng thời có mối
quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và đều nhằm tới một mục
đích chung là quản lý tốt chi phí sản xuất và tính đúng giá thành sản
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phẩm .Các cách phân loại chi phí khác nhau cho phép ta hiểu cặn kẽ hơn
nội dung và tính chất của chi phí , vị trí mỗi loại chi phí trong quá trình
sản xuất .Từ đó đi đến mục tiêu nghiên cứu, xây dựng hệ thống định
mức các khoản mục giá thành cho từng loại hoạt động sản xuất .
Bên cạnh các cách phân loại trên, trong quản lý kinh tế cón sử
dụng một số loại thuật ngữ khác nhau nh : chi phí cơ hội, chi phí khác
biệt, chi phí tới hạn
Trong sản xuất chi phí chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí đi .Để
đánh giá chất lợng kinh doanh của các tổ chức kinh tế thì chi phí chi ra
cũng phải xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là
mặt cơ bản của quá trình sản xuất đó là kết quả sản xuất thu đợc. Quan
hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu ''Giá thành sản phẩm ''.
2. Giá thành sản phẩm :
a) Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm cũng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến
khối lợng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất bao gồm hai mặt :
Mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi
phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trớc chuyển sang) và các chi phí
trích trớc có liên quan đến khối lợng sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã hoàn
thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác,
giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhng có liên quan đến khối lợng
công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất
hàng hoá, giá thành là lợng hao phí kết tinh trong sản phẩm.giá thành
sản phẩm lại là một chỉ tiêu tính toán không thể thiếu của quản lý theo
nguyên tắc hạch toán kinh tế, do vậy có thể nói giá thành sản phẩm vừa
mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan ở một phạm vi nhất
định.
Dùng thuật ngữ ''chi phí sản xuất'' C.Mác đã chỉ rõ bản chất của
giá thành : "chi phí sản xuất của hàng hoá chỉ hoàn toàn do t bản đã thực
sự chi phí vào sản xuất hàng hoá cấu thành mà thôi ''. Bản chất của chi
phí sản xuất và của giá thành sản phẩm là nh thế, điều đó không chỉ
đúng với sản xuất t bản chủ nghĩa mà còn đúng với mọi hình thức sản
xuất khác. Bởi vì nh C.Mác viết :"chi phí sản xuất hoàn toàn không phải
là một khoản mục chỉ có trong kế toán t bản mà thôi. Tính chất độc lập
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
của yếu tố giá trị ấy trong thực tiễn không ngừng biểu hiện ra quá trình
sản xuất thực tế của hàng hoá ".
Giá thành sản phẩm có quan hệ mật thiết với gía trị hàng hoá và là
một bộ phận cơ bản của giá trị hàng hoá.
Ta biết : Giá trị hàng hoá = C + V + M .
ở góc độ Doanh nghiệp, để tạo ra sản phẩm dịch vụ thì doanh
nghiệp phải bỏ ra hai bộ phận chi phí là C và V. Đó là chi phí sản xuất
mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tạo ra sản phẩm dịch vụ, giá thành sản
phẩm là chi phí sản xuất tính cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp
sản xuất đã hoàn thành trong kỳ.
Nh vậy, giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất l-
ợng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính
của xí nghiệp giá thành dợc tíng toán chính xác cho từng loại sản phẩm
hoặc lao vụ cụ thể (đối tợng tính giá) và chỉ tính toán xác định đối với
số lợng sản phẩm hoặc lao vụ đã hoàn thành. Khi kết thúc một hay một
số giai đoạn công nghệ sản xuất (nửa thành phẩm).
b) Phân loại giá thành sản phẩm :
Để đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành cũng đợc xem xét
dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Về lý luận cũng
nh trên thực tế, ngoài các khái niệm giá thành xã hội và giá thành cá
biệt, còn có khái niệm giá thành công xởng, giá thành toàn bộ
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu để tính, giá thành
sản phẩm đợc chia thành:
+ Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch đợc xác định trớc khi b-
ớc vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc và các định mức,
các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch
+ Giá thành định định mức : Giống nh giá thành kế hoạch, giá
thành định mức cũng đợc xác định trợc khi bắt đầu sản xuất sản phẩm.
Tuy nhiên, khác với giá thành k ế hoạch đợc xây dựng trên cơ sở các
định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế
hoạch, giá thành định mức lại đợc xây dựng trên cơ sở các định mức chi
phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thờng là
ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự
thay đổi của các định mức chi phí đạt đợc trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
Giá thành định mức đợc xem là thớc đo chính xác kết quả sử dụng
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
các loại tài sản, vật t, tiền vồn trong doanh nghiệp, để đánh giá các giải
pháp mà doanh nghiệp đã áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh
nhằm nâng cao hiệu quả chi phí.
+ Giá thành thực tế: khác với hai loại trên, giá thành thực tế là chỉ
tiêu đợc xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở
các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Giá
thành thực tế của sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả
phấn đấu của Doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp
kinh tế-tổ chức-kỹ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ
sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
có ảnh hởng trực tiếp đến thu nhập của Doanh nghiệp.
Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành đợc chia
thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ:
+ Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xỏng) là chỉ tiêu
phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế
tạo sản phẩm trong phạm vi phân xởng sản xuất.
Giá thành sản xuất của sản phẩm bao gồm các chi phí sản xuất :chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản
xuất chung tính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành. Giá
thành sản xuất của sản phẩm đợc sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn
thành nhập kho bàn giao cho khách hàng. Giá thành sản xuất của sản
phẩm cũng là căn cứ để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các
Doanh nghiệp sản xuất .
+ Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan tới việc sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm (chi phí sản xuất, quản lý và bán hàng). Giá thành tiêu thụ của sản
phẩm là căn cứ để tính toán lãi trớc thuế lợi tức của Doanh nghiệp. Giá
thành tiêu thụ còn đợc gọi là giá thành đầy đủ và đợc tính theo công
thức:
Giá thành toàn bộ Giá thành sản xuất Chi phí Chi phí
Của Sản phẩm = của sản phẩm + QLDN + BH
Tuỳ theo từng loại hình Doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực
khác nhau, nếu quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ (bán hàng) diễn
ra đồng thời (nh đối với các hoạt động dịch vụ, du lịch, vận tải ) thì giá
thành sản xuất thực tế và giá thành sản phẩm tiêu thụ đợc xác định đồng
thời.
ý nghĩa của giá thành sản xuất thực tế đợc sử dụng khi nhập kho
thành phẩm còn giá thành sản phẩm tiêu thụ đợc sử dụng để tính toán
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
xác định kết quả bán hàng (kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp ).
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm :
Xét về mặt nội dung, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai
mặt của quá trình sản xuất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giống
nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật
hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất và chế tạo sản
phẩm.
Xét về mặt kế toán, thì kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm là hai bớc công việc liên tiếp và gắn bó hữu cơ với nhau.
Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại không giống nhau
về lợng sự khác nhau đó thể hiện ở các điểm sau:
+ Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí,
còn giá thành lại gắn với khối lợng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn
thành.
+ Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí sản xuất đã
trả trớc trong kỳ nhng cha phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả
kỳ trớc nhng kỳ này mới phát sinh thực tế, nhng không bao gồm chi phí
trả trớc của kỳ trớc phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ này
nhng thực tế cha phát sinh. Ngợc lại, trong giá thành sản phẩm chỉ bao
gồm một phần chi phí thực tế đã phát sinh (chi phí trả trớc) hoặc một
phần chi phí phí sẽ phát sinh ở kỳ sau nhng đã ghi nhận là sản phẩm của
kỳ này (chi phí phải trả).
+ Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản
phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm đang còn dở
dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên
quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm
hỏng nhng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ
trớc chuyển sang.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể đ-
ợc khái quát qua sơ đồ sau :
Chi phí sản xuất dở
dang đầu kỳ
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
B D
A Tổng giá thành sản phẩm dịch vụ C hoàn
thành
Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Qua sơ đồ trên, ta thấy: AC = AB + BD - CD
Hay :
Tổng giá thành chi phí sản xuất dở chi phí sản xuất chi phí sản
xuất dở
Sản phẩm = dang đầu kỳ + phát sinh trong kỳ - dang
cuối kỳ
Nếu :
+ Chi phí sản xuất dở dang dầu kỳ = chi phí sản xuất dở dang cuối
kỳ thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ.
+ Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ > chi phí sản xuất dở dang cuối
kỳ thì tổng giá thành sản phẩm lớn hơn tổng chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ.
+ Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ < chi phí sản xuất dở dang cuối
kỳ thì tổng giá thành sản phẩm nhỏ hơn tổng chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ rất mật
thiết vì nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của những
chi phí Doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất. Chi phí sản xuất
trong kỳ là căn cứ là cơ sở để tính giá thành của sản phẩm, công việc, lao
vụ đã hoàn thành . Sự tiết kiệm hay lãng phí về chi phí sản xuất có ảnh
hởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm là cao hay thấp. Tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hai công việc kế tiếp nhau, gắn bó
hữu cơ với nhau. Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản
xuất .
4. Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sẩn phẩm:
Trong công tác quản lý Doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn luôn đợc các
nhà quản lý Doanh nghiệp quan tâm, vì chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lợng của hoạt động sản xuất của
Doanh nghiệp. Thông qua những thông tin về chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm do bộ phận kế toán cung cấp, những ngời quản lý Doanh
nghiệp nắm đợc chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thực tế của từng
loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng nh kết quả của toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, để phân tích đánh giá
tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí,tình hình sử
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dụng tài sản, vật t, lao động, tiền vốn, tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành sản phẩm để có các quyết định quản lý thích hợp .
Tổ chức kế toán đúng, hợp lý và chính xác chi phí sản xuất và tính
đúng tính đủ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong quản lý chi phí,
giá thành ;tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chi phí phát sinh ở
Doanh nghiệp nói chung, ở từng bộ phận đối tợng nói riêng góp phần
quản lý vật t, tài sản, lao động, tiền vốn có hiệu quả. Mặt khác, tạo điều
kiện và có biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm .Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm còn là tiền đề để
xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Để
thực hiện tốt nh vậy thì kế toán có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm tổ chức
sản xuất sản phẩm của Doanh nghiệp để xác định đối tợng tập hợp chi
phí sản xuất và phơng pháp tính giá thành thích hợp.
Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo
đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phơng pháp
thích hợp đã chọn, cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về
các khoản mục chi phí và yếu tố chi phí quy định, xác định đúng đắn chi
phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Vận dụng phơng pháp tính giá thành thích hợp để tính toán
giá thành và giá thành đơn vị của các đối tợng tính giá thành theo đúng
các khoản mục quy định và đúng kỳ tính giá thành đã xác định.
Định kỳ cung cấp Báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành
cho lãnh đạo Doanh nghiệp và tiến hành phân tích tình hình thực hiện
các định mức chi phí và đặc điểm toán chi phí, tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản phẩm, phát hiện kịp thời
khả năng tiềm tàng đề xuất biện pháp thích hợp để phấn đấu không
ngừng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét