Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam lí luận và thực tiễn

đề cơng đề án kinh tế chính trị
Đề tài: Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam lí luận và
thực tiễn
Ngời thực hiện : Nguyễn Văn Học
Lớp : Quản lí kinh tế 47A
Ngời hớng dẫn : GS.TS. Phạm Quang Phan
Mở đầu
I. Nghiên cứu lí luận về doanh nghiệp Nhà nớc và cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc trong nền kinh tế ở Việt Nam
1. Doanh nghiệp Nhà nớc
a. Khái niệm
b. Vị trí và vai trò
2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc
a. Khái niệm
b. Vị trí và vai trò
II.Thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam
1. Trớc thời kì đổi mới (trớc 1986)
2. Từ thời kì đổi mới đến nay (từ 1986->nay)
3. Đánh giá thành tựu, hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc
4. Những vấn đề đặt ra trong việc củng cố sắp xếp các doanh nghiệp Nhà
nớc
III. Nghiên cứu quan điểm và các giải pháp tiến hành cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam
1. Các quan điểm của Đảng và Nhà nớc về vấn đề cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc
2. Các giải pháp cơ bản tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc
Kết luận
- ý nghĩa lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
Danh mục tài liệu tham khảo.
Mở đầu
Nh đã biết đất nớc ta là một nớc nghèo, các trang thiết bị lạc hậu, nguồn
tài chính hạn hẹp nên các doanh nghiệp Nhà nớc hầu nh không có khả năng
cạnh tranh trên thị trờng và đổi mới công nghệ cũng nh sản phẩm. Ngân sách
Nhà nớc không có khả năng cấp vốn và bao cấp các doanh nghiệp Nhà nớc nh
trớc đây. Các ngân hàng cho vay cũng phải có các điều kiện bảo đảm nh tài sản
thế chấp, khả năng kinh doanh để tính khả năng thu hồi vốn. Hầu hết các doanh
nghiệp ở trong tình trạng không có vốn nhng cũng không có cách nào để huy
động. Đối mặt với những khó khăn đó, cổ phần hóa đợc coi là một giải pháp
nhằm tạo ra môi trờng huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp để đầu t
chiều sâu đổi mới công nghệ. Vì vậy đây là lựa chọn tất yếu có tính khách quan.
Cổ phần hóa là một nội dung quan trọng trong công cuộc đổi mới. Cổ phần hóa
thu hút đợc một nguồn vốn nhất định trong công nhân viên tại doanh nghiệp và
ngoài xã hội, tạo ra một động lực trong quản lý và phát huy tốt hơn tính sáng
tạo, cần cù của ngời lao động việc làm của ngời lao động đảm bảo tốt hơn nên
doanh thu lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách, tích lũy vốn của doanh nghiệp
và chính thu nhập của ngời lao động sẽ tăng lên chuyển đổi hình thức sở hữu
với quy chế quản lý mới,ngời lao động sẽ phát huy ý thức kỷ luật, tự giác, chủ
động tinh thần tiết kiệm trong lao động góp phần làm cho hiệu quả trong sản
xuất kinh doanh ngày càng cao, mang lợi ích thiết thực cho bản thân mình, công
ty Nhà nớc và xã hội.
Nội dung
I. Nghiên cứu lí luận về doanh nghiệp Nhà nớc và cổ phần hóa
doanh nghiệp Nhà nớc trong nền kinh tế ở Việt Nam
1. Doanh nghiệp Nhà nớc
a. Khái niệm: Theo điều 1 của luật doanh nghiệp Nhà nớc quy định.
Doanh nghiệp Nhà nớc là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn, thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động côn gích, nhằm thực
hiện mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nớc gia .
- Doanh nghiệp Nhà nớc, có t cách pháp nhân, pháp quyền và nghĩa vụ
dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số
vốn do doanh nghiệp quản lý.
b. Vị trí và vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc trong nền kinh tế nhiều
thành phần.
Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp Nhà nớc của mỗi quốc gia tuy
có những đặc điểm riêng nhất định, song có đặc điểm chung là thờng tập trung
vào những ngành, những lĩnh vực then chốt, giữ vị trí vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế quốc dân.
Trả qua nhiều năm xây dựng và phát triển, doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc
ta đã trở thành một lực lợng kinh tế hùng hậu, nhất là trong các ngành sản xuất
và dịch vụ quan trọng. Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của nớc ta
doanh nghiệp Nhà nớc giữ vị trí hàng đầu và vai trò chủ đạo đợc thể hiện ở các
mặt sau:
- Doanh nghiệp Nhà nớc là lực lợng vật chất quan trọng, và là công cụ
quản lý để Nhà nớc định hớng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Nhà nớc
điều tiết phát triển của các thành phần kinh tế thông qua các hệ thống pháp luật,
kế hoạch và chính sách, đồng thời sử dụng doanh nghiệp Nhà nớc nh là một
thực lực kinh tế, làm cơ sở đảm bảo cho những cân đối chủ yếu trong quá trình
phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Doanh nghiệp Nhà nớc là một trong số các nguồn chủ yếu cung cấp tài
chính cho ngân sách Nhà nớc. Nhờ có đóng góp to lớn về tài chính của các
doanh nghiệp Nhà nớc cho ngân sách, Nhà nớc có thêm vốn đầu t vào lĩnh vực
kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật nhằm bảo đảm cung cấp các loại hàng hóa và
dịch vụ công cộng cho xã hội, góp phần tích cực vào nâng cao tốc độ và hiệu
quả phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Doanh nghiệp Nhà nớc là nơi đặc biệt quan trọng thu hút viện trợ vốn
đầu t nớc ngoài cho phát triển kinh tế xã hội của đất nớc: Để đáp ứng nhu cầu to
lớn về vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tận lực khai thác các nguồn
lực tài chính bên trong nớc kết hợp thu hút nguồn nhân lực bên ngoài. Thu hút
tài trợ các nguồn vốn bên ngoài vào các lĩnh vực nh khai thác than, dầu khí, chế
tạo hàng điện tử, ô tô, xe máy
- Doanh nghiệp Nhà nớc gánh vác trách nhiệm nặng nề trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội.
Nh vậy, doanh nghiệp Nhà nớc là trung tâm tiêu biểu của khoa học, công
nghệ, là tấm gơng sáng về quản lý, các doanh nghiệp không chỉ chịu phục vụ
riêng cho mình, mà còn góp phần phổ biến trang bị khoa học, công nghệ mới .
Doanh nghiệp Nhà nớc còn tạo ra công ăn việc làm cho ngời lao động, cải thiện
cuộc sống, nâng cao văn hóa giáo dục, giảm sự chênh lệch thành thị và nông
thôn
2. Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc
a. Khái niệm
Trớc xu thế phát triển ngày càng cao của thị trờng thế giới và những yêu
cầu của nền kinh tế "mở" thì mô hình hoạt động cứng nhắc của các doanh
nghiệp Nhà nớc không còn phù hợp đặc biệt là ở các nớc đang phát triển nh
Việt Nam. Trên thế giới, xu thế cổ phần hóa đã diễn ra mạnh mẽ từ những năm
80, cổ phần hóa có thể hiểu là việc chuyển một doanh nghiệp Nhà nớc thuộc sở
hữu Nhà nớc thành công ty cổ phần thuộc sở hữu tập thể nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động và huy động vốn đáp ứng cho nhu cầu đầu t và phát triển.
Nh vậy, cổ phần hóa chính là phơng thức thực hiện xã hội hóa sở hữu,
chuyển đổi từ sở hữu toàn dân sang sở hữu tập thể. Đây là một công cụ huy
động vốn đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện cho ngời lao động thực sự làm chủ
doanh nghiệp.
b. Vị trí và vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc
Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc là lối ra phù hợp với khu vực kinh tế
Nhà nớc, nó có vị trí vai trò trên nhiều mặt sau:
- Cổ phần hóa giải tỏa đợc bế tắc khủng hoảng về vốn cho doanh nghiệp
cổ phần hóa để tạo điều kiện cho nó mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm nhẹ
gánh nặng tài chính cho Nhà nớc, Nhà nớc có thể thu hồi vốn đầu t ở doanh
nghiệp để chuyển sang đầu t các hoạt động u tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy sang
đầu t cho các hoạt động u tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy phát triển của
toàn bộ xã hội, nh đầu t cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật công trình phúc lợi, giáo
dục khoa học
- Cổ phần hóa thông qua đa dạng hóa sở hữu tạo động lực cho ngời lao
động. Cổ phần hóa bảo đảm sở hữu hóa cho ngời lao động tại công ty, xí nghiệp
bằng cách cho họ tham gia đầu t mua cổ phiếu, thực hiện quyền làm chủ thực
sự, có tính vật chất trên phần vốn đóng góp của họ và thực sự phấn đấu hăng hái
cho nâng cao hiệu quả đồng vốn có.
- Cổ phần hóa cho phép dứt bỏ đợc chế độ bao cấp ngân sách của Nhà n-
ớc, gạt bỏ chỉ đạo nhiều chi phí kinh tế của các cơ quan chủ quản bên trên.
Đồng thời làm cho doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể kinh doanh, chỉ hoạt
động vì mục tiêu của doanh nghiệp.
- Cổ phần hóa tạo điều kiện cải tiến, đổi mới cộng tác lãnh đạo quản lý
doanh nghiệp, tập trung vào đồng bộ thống nhất thực sự vì lợi ích chung và lợi
ích riêng trong doanh nghiệp.
- Cổ phần hóa tạo điều kiện cho doanh nghiệp cổ phần đợc tự chủ, chủ
động trong quan hệ tự nguyện liên doanh, liên kết kinh tế với các tổ chức và cá
nhân trong và ngoài nớc, mở ra khả năng tự nguyện hợp tác kinh doanh.
- Nh vậy, cổ phần hóa con đờng ngắn nhất vừa bảo tồn vốn cho Nhà nớc,
giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển thực hiện những chủ trơng của Đảng
và Nhà nớc, thu hút đợc nguồn vốn trong dân, còn tạo môi trờng cạnh tranh
bình đẳng, khuyến khích đợc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu t phát triển
II. Thực trạng doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam
1. Trớc thời kì đổi mới (trớc 1986)
Từ năm 1986 trở về trớc, khu vực kinh tế Nhà nớc ở nớc ta hoạt động
trong cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp, tăng trởng với tốc độ chậm,
thất thờng và hiệu quả kinh tế xã hội thấp.
Do chủ quan duy ý chí và nóng vội đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã
phát triển ào ào, tràn lan nền kinh tế quốc dân làm cho số doanh nghiệp Nhà n-
ớc từ 7000 năm 1976 tăng lên 12.000 năm 1986. Điều này đã gây ra tình trạng
lãng phí tiền của của Nhà nớc vào xây dựng và trang bị các doanh nghiệp Nhà
nớc. Hơn nữa, quản lý các doanh nghiệp Nhà nớc lại thực hiện theo cơ chế bao
cấp trong một thời gian dài, làm cho hiệu quả sử dụng tài sản trong khu vực
kinh tế Nhà nớc còn thấp, thiếu vốn và chiếm dụng vốn lẫn nhau trở thành một
hiện tợng phổ biến.
2.Từ thời kì đổi mới đến nay (từ 1986 đến nay)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đánh
dấu các mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới kinh tế xã hội của đất nớc.
- Cùng với quá trình đổi mới và chuyển đổi cơ chế đã làm cho doanh
nghiệp Nhà nớc năng động hơn, hiệu quả hơn. Số lợng doanh nghiệp Nhà nớc từ
năm 1989 là 12.000, sau khi mạnh tay sắp xếp lại đã giảm đi quá nửa, nhng tỷ
trọng GDP của khu vực kinh tế Nhà nớc trong nền kinh tế quốc dân lại tăng
lên, từ 37,6% năm 1986 tăng lên 43,3% năm 1995, năm 2000 khoảng 39%;
trong 5 năm 1991 - 1995 tốc độ tăng trởng GDP bình quân hàng năm của khu
vực doanh nghiệp Nhà nớc đạt 11,7%, trong đó của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân chỉ là 8,2%.
- Tuy đã đạt đợc nhiều kết quả, nhiều tích cực song trớc xu thế toàn cầu
hóa, hội nhập kinh tế mà có không ít các doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn thua lỗ,
làm mất vốn của Nhà nớc, không có khả năng thanh toán công nợ. Theo báo
cáo của Bộ Tài chính tại hội nghị ngành tài chính toàn quốc họp tại Hà Nội
ngày 9 đến ngày 10/11/1998 số doanh nghiệp Nhà nớc thua lỗ có giảm dần từ
21% năm 1991 còn 16% năm 1995 nhng đến năm 1996 lại tăng lên 22%. Năm
1997 có 1923 doanh nghiệp thua lỗ, chiếm 35% tổng số doanh nghiệp Nhà nớc.
Các doanh nghiệp Nhà nớc có quy mô còn bé và không đồng đều, thiếu vốn,
thiếu kỹ thuật, công nghệ, tay nghề kém, kinh nghiệm, quản lý còn nhiều bất
cập đã làm cho các doanh nghiệp Nhà nớc thua lỗ trầm trọng.
3. Đánh giá thành tựu, hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc
a. Đánh giá về những thành tựu của doanh nghiệp Nhà nớc
Trong quá trình đổi mới và chuyển đổi cơ chế đã giúp cho các doanh
nghiệp Nhà nớc có hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng và đóng góp vai trò
quan trọng trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đặc biệt sự phát triển
của các doanh nghiệp Nhà nớc trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật, năng l-
ợng, dầu khí, giao thông bu chính đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nớc
thuộc các thành phần kinh tế khác, phát triển đồng thời thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Các doanh nghiệp Nhà nớc đóng góp GDP hàng năm cho khu vực kinh
tế quốc dân, tạo ra nguồn vốn lớn cho Nhà nớc thực hiện xây dựng cơ sở hạ
tầng, xây dựng các công trình phúc lợi xây dựng trờng học, phát triển giáo dục,
khoa học, công nghệ tạo lập bình đẳng trong xã hội, gây dựng Nhà n ớc Việt
Nam ngày càng văn minh giàu đẹp.
- Những thành tựu này góp phần củng cố vị thế của các doanh nghiệp
Nhà nớc trên trờng quốc tế.
b. Đánh giá về những hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho nhiều doanh
nghiệp Nhà nớc ở nớc ta kinh doanh thua lỗ, phá sản chính vì lẽ đó mà làm
cho thâm hụt ngân sách Nhà nớc phải bù lỗ cho các doanh nghiệp Nhà nớc, làm
cho nạn thất nghiệp ngày càng nhiều, thiếu công ăn việc làm, nhiều tệ nạn trong
xã hội gia tăng,nguồn vốn vay nớc ngoài ngày càng lớn
- Những hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc không chỉ làm thâm hụt
ngân sách Nhà nớc mà nó còn làm cho quá trình thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của đất nớc bị chậm lại, kinh tế kém phát triển dẫn đến ngày càng
tụt hậu so với nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
- Những hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan gây ra. Nhng nguyên nhân cực kỳ quan trọng gây ra tình hình
trên là sức mua của nhân dân, sức mua của nông thôn còn thấp, thị trờng cha đ-
ợc mở rộng, cơ quan quản lý cha hoạt động hiệu quả, trình độ ứng dụng khoa
học còn non kém, thiếu nguồn vốn đầu t
Qua đây có thể thấy những thành tựu và hạn chế của doanh nghiệp Nhà
nớc, những tác động của những thành tựu và hạn chế đó tới nền kinh tế, tới cuộc
sống, định hớng phát triển và chiến lợc phát triển của nền kinh tế quốc dân.
4. Những vấn đề đặt ra trong việc củng cố sắp xếp các doanh nghiệp
Nhà nớc.
Nhằm quán triệt các quan điểm và yêu cầu của Đảng và Nhà nớc ta, đã
đề ra những vấn đề trong việc củng cố sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nớc:
- Sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nớc, duy trì và phát triển những doanh
nghiệp Nhà nớc làm ăn có hiệu quả, giải thể và cho phá sản các doanh nghiệp
Nhà nớc bị thua lỗ kéo dài.
- Sát nhập các doanh nghiệp nhỏ vào các công ty lớn, thành lập các công
ty ngành hàng nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trờng trong và ngoài nớc, thị
trờng khu vực và thị trờng thế giới.
- Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp theo hớng giao quyền tự chủ kinh
doanh, từng bớc xóa bỏ cơ chế Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản nhiệm vụ
là sự cách biệt giữa doanh nghiệp Trung ơng và doanh nghiệp địa phơng, đồng
thời tăng cờng công tác kiểm tra kiểm soát của Nhà nớc.
- Cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nớc theo yêu cầu của xã
hội hóa nền sản xuất, đặc biệt là xã hội hóa về vốn.
Sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc là một vấn đề vừa có tính bức xúc,
vừa có tính cơ bản. Đây là một công việc phức tạp, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực và nhiều tầng lớp dân c, nó đòi hỏi phải chi phí nhiều nguồn lực
và không thể giải quyết một cách nhanh chóng. Để đạt đợc những vấn đề đặt ra
trong việc củng cố sắp xếp lại các doanh nghiệp thì các doanh nghiệp phải giải
quyết một số vấn đề chủ yếu nh sau:
+ Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nớc phải đợc khẳng định dựa
trên cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh là chủ yếu.
Các doanh nghiệp Nhà nớc là công cụ vô cùng quan trọng của Nhà nớc để dẫn
dắt nền kinh tế quốc dân phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
+ Cách tiếp cận vấn đề sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc cần xuất
phát từ quan hệ sở hữu, phải có quan điểm đúng đắn về cơ cấu sở hữu trong các
doanh nghiệp Nhà nớc. Đặc biệt, coi trọng quan hệ giữa doanh nghiệp Nhà nớc
và các thành phần kinh tế để tạo lên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ nền kinh tế.
+ Tạo lập môi trờng cạnh tranh bình đẳng trong sản xuất kinh doanh giữa
các thành phần kinh tế.
+ Xác định đại diện chủ sở hữu tài sản của Nhà nớc tại doanh nghiệp Nhà
nớc trên cơ sở phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng.
+ Hoàn thiện chức năng quản lý của Nhà nớc về kinh tế trên cơ sở tách
quyền sở hữu Nhà nớc của các cơ quan Nhà nớc với quyền sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, xóa bỏ chế độ cơ quan, cấp hành chính chủ quản, với doanh
nghiệp là chủ thể sản xuất vốn lâu nay đã can thiệp quá sâu vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, biến doanh nghiệp trở thành vật phụ thuộc
của cơ quan hành chính Nhà nớc, gây nhiều phiền hà, cản trở, nhng rút cục
không chịu trách nhiệm đối với những hậu quả xấu đã xảy ra, cũng nh đối với
các phán quyết sai trí của mình.
+ Thiết lập một cơ quan độc lập để thực hiện chơng trình cải cách doanh
nghiệp Nhà nớc trong một số năm. Nh đã biết, việc sắp xếp lại các doanh
nghiệp Nhà nớc là một bộ phận quan trọng của lực lợng sản xuất, do vậy cách
tiếp cận vấn đề cũng phải xuất phát từ các quan hệủơ hữu, quan hệ quản lý và
quan hệ phân phối; đặt toàn bộ các quan hệ đó trong mối quan hệ tơng tác giữa
các thành phần kinh tế trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trờng dới sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
III. Nghiên cứu quan điểm và các giải pháp tiến hành cổ phần
hóa doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam.
1. Các quan điểm của Đảng và Nhà nớc về vấn đề cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc
Nói đến quan điểm về cổ phần hóa, trớc hết ta phải khẳng định cổ phần
hóa không phải là t nhân hóa. Cổ phần hóa là một nội dung đa dạng hóa sở hữu,
là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu của một chủ thể thành sở hữu của
nhiều chủ thể, trong đó Nhà nớc là một chủ sở hữu. Còn t nhân hóa là chuyển sở
hữu Nhà nớc thành sở hữu t nhân, Nhà nớc không tham gia là chủ sở hữu một
phần vốn và tài sản nào.
Qua những phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp
Nhà nớc sản xuất kém hiệu quả, ta thấy cổ phần hóa là con đờng tối u để các
doanh nghiệp này tồn tại và phát triển. Việc đẩy mạnh cổ phần hóa đợc Đảng và
Nhà nớc khẳng định tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) là "Triển
khai vững chắc và tích cực cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc để huy động
thêm vốn tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn có hiệu quả, vốn
huy động đợc dùng để đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh". Cổ phần hóa là
công cụ huy động vốn hiệu quả cao. Thực chất của vấn đề CPH là tối u hóa việc
huy động khó khăn hoặc đang giảm sút nh huy động vốn qua ngân hàng, đầu t
nớc ngoài quan điểm này cần đ ợc phổ biến rộng rãi đến các chủ thể có khả
năng mua cổ phiếu.
Đứng trên góc độ ngời lao động thì Cổ phần hóa chính là một cơ hội để
vơn lên làm chủ sản xuất. Động lực này thúc đẩy ngời lao động làm việc hăng
say hơn, năng suất và chất lợng cao hơn. Do đó, cổ phần hóa phải tạo điều kiện
cho ngời lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp có nh vậy thì mới phát triển đ-
ợc sản xuất.
Quan điểm của Đảng và Nhà nớc chỉ rõ: "cổ phần hóa một số doanh
nghiệp Nhà nớc không phải là t nhân hóa nền kinh tế mà là quá trình giảm bớt
sở hữu Nhà nớc trong các doanh nghiệp Nhà nớcvà đa dạng hóa sở hữu. Nó tạo
cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm. thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế, tạo động
lực phát triển trong doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh".
Đảng và Nhà nớc cũng khẳng định "cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc không
có nghĩa là làm suy yếu khu vực kinh tế Nhà nớc, mà là một trong các giải pháp
quan trọng để tháo gỡ những vớng mắc, khó khăn trong sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp Nhà nớc hiện nay nhằm phát huy vai trò chủ đạo thực sự
của chúng trong nền kinh tế thị trờng".
Nh vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc đợc Đảng và Nhà nớc khẳng
định và chỉ rõ nh là giải pháp mang tính chất bớc ngoặt để doanh nghiệp Nhà n-
ớc tồn tại và phát triển trong xu hớng xã hội hoá, hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế.
2. Các giải pháp cơ bản tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc
a. Giải pháp cho các doanh nghiệp còn gặp khó khăn về tài chính và quản

- Những doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn có hiệu quả, những nhóm doanh
nghiệp có khó khăn về tài chính, những nhóm doanh nghiệp có khó khăn vè
quản lý giá thành sản xuất lên cao thì đều thuộc nhóm doanh nghiệp cổ phần
hóa còn những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài sẽ phải áp dụng các biện
pháp sát nhập với các đơn vị khác rồi cổ phần hoá, hoặc bán cho cán bộ công
nhân viên chức trong và ngoài doanh nghiệp hoặc cho phá sản. Hay cần phải
thành lập các quỹ hỗ trợ để giải quyết khó khăn về tài chính,nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh, làm ăn có lãi.
Khi tham gia vào cơ chế thị trờng thì phải nhận thức rõ khâu quản lý là
khâu có tính chất quyết định. Một ngời quản lý tốt phải nắm bắt chính xác tình
hình của doanh nghiệp, khi có thua lỗ phải biết cách chuyển hớng sản xuất kinh
doanh, khôi phục lại doanh nghiệp. Chính vì vậy việc lựa chọn ngời quản lý
không phải dễ dàng. ở nớc ta hiện nay công tác đào tạo ngành quản trị kinh
doanh vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu về chất lợng. Đây là một vấn đề cần đợc
xem xét, giải quyết để có thể theo kịp sự phát triển của nền kinh tế.
b. Giải pháp cho những tồn tại về mặt t tởng
Những tồn tại về mặt nhận thức t tởng là một trong những trở lực lớn, đầu
tiên trong việc tiến hành cổ phần hóa ở bất cứ một doanh nghiệp nào.
- Quán triệt t tởng xem cổ phần hóa là phơng thức huy động vốn tối u và
hiệu quả nhất:
+ Xét ở góc độ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ, thiếu vốn
khiến các hoạt động trở lên cầm chừng rất kém hiệu quả, không có khả năng
mở rộng và phát triển sản xuất. Các doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động kém hiệu
quả nên các nhà đầu t còn e dè sợ đồng tiền mình đầu t sẽ không có hiệu quả,
không sinh lời. Để vay đợc vốn ngân hàng doanh nghiệp phải gặp rất nhiều khó
khăn nh: phải thế chấp các khoản cho vay thờng ngắn hạn, lãi suất cao nên sau
khi kinh doanh và trả lãi ngân hàng thì lãi thực không còn bao nhiêu. Trong khi
đó, việc mở rộng liên doanh với nớc ngoài cũng còn nhiều bất cập do những bất
đồng về ngôn ngữ, quyền lợi và các thủ tục giấy gờ. Vì vậy phải quán triệt t t-
ởng. Xem cổ phần hóa là phơng thức huy động vốn tối u và hiệu quả nhất. Cổ
phần hóa mở ra một cánh cửa đầu t thuận lợi và dễ dàng huy động đợc một lợng
vốn không lãi suất, không kỳ hạn. Các doanh nghiệp nên chủ động đăng ký cổ
phần hóa để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nâng cao trách nhiệm của ngời lao
động tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định và bền vững.
- Giải pháp những thắc mắc cho cán bộ công nhân viên trong doanh
nghiệp và những ngời có liên quan trớc khi cổ phần hóa:
+ Cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp phải có ý thức một cách rõ
ràng cổ phần hóa là một tất yếu khách quan. Họ cần phải hiểu, cổ phần hóa là vì
lợi ích của các doanh nghiệp của chính họ. Sau khi tiến hành cổ phần hóa họ sẽ
hoàn toàn độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Đây là cơ hội cho những
ngời có thực lực, những doanh nghiệp vơn lên khẳng định mình. Còn đối với
những ngời kém năng lực, những doanh nghiệp yếu thì phải nhận ra là đã đến
lúc phải tự vơn lên hoàn thiện mình nên không muốn bị đào thải theo quy luật
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng. Các cơ quan chức năng có trách nhiệm
làm rõ cho ngời lao động hiểu rõ những lợi ích mà họ đợc hởng khi tiến hành cổ
phần hóa. Đồng thời phải làm rõ cho họ thấy đợc những trách nhiệm mà họ sẽ
phải gánh vào, những rủi ro có thể xảy ra để họ có nỗ lực, quyết tâm hơn.
+ Các phơng tiện thông tin đại chúng góp phần rất đắc lực để hỗ trợ việc
tuyên truyền các mục tiêu trên. Tuyên truyền qua đài, báo, ti vi đặc biệt ở
những tờ báo uy tín, truyền hình trung ơng. Tuyên truyền qua các chơng trình
thời sự, những bộ phim, những câu chuyện là những ch ơng trình thu hút đợc
nhiều khán giả. Việc đa tin về các công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, những
buổi phỏng vấn trực tiếp trên đài truyền thanh, truyền hình về chủ trơng cổ phần
hóa chắc chắn sẽ đóng góp vào việc tuyên truyền cho đông đảo quần chúng về
quan điểm của Đảng và Nhà nớc. Qua đây, doanh nghiệp cũng tác động đến các
cổ đông tiềm năng ngoài doanh nghiệp.
+ Ngoài ra, các cơ quan chức năng phải nhận thức rõ và hiểu những chủ
trơng chính sách mới của Chính phủ về cổ phần hóa "truyền bá cho đông đảo
quần chúng những chủ trơng mới của Chính phủ về cổ phần hóa.
- Đối với những hành động chân lý có ý cản trở việc thực hiện chủ trơng
cổ phần hóa cần có những chế tài xử lý nghiêm minh. Những thành phần này
chủ yếu là những cán bộ lãnh đạo sợ mất chức hoặc những ngời có năng lực
kém sợ mất chỗ làm. Cần xử lý nghiêm minh những trờng hợp này, có nh vậy
vai trò chỉ đạo của các cơ quan, tổ chức mới đợc đảm bảo, trên cơ sở đó tiến
hành đẩy nhanh các công đoạn của quy trình cổ phần hóa.
- Phê phán và khắc phục triệt để t tởng ỷ lại vào bao cấp của Nhà nớc:
+ Trớc kia, các doanh nghiệp Nhà nớc đợc hình thành một cách ồ ạt
không quan tâm đến việc có hoạt động hiệu quả hay không. Chính công tác
quản lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, không đi sâu đi sát tình hình tạo ra một bộ máy
cồng kềnh ỳ ạch chuyên dựa vào bao cấp của ngân sách. T tởng ngày đã ăn sâu
vào một bộ phận lớn doanh nghiệp. Vì vậy cần có những cải cách kịp thời và
đúng đắn để xóa dần t tởng trên. Chính vì vậy cần phải nhanh chóng làm cho họ
hiểu đợc cổ phần hóa là một biện pháp giúp họ vơn lên, tự đứng ra chịu trách
nhiệm về quyết định của mình.
c. Giải pháp cho vấn đề dôi d lao động trong doanh nghiệp sau khi tiến
hành cổ phần hóa
- Dôi d lao động sau cổ phần hóa là một trong những mặt trái của quá
trình cải cách doanh nghiệp, nó là vấn đề cực kỳ phức tạp. Vì vậy các doanh
nghiệp phải trực tiếp đa ra hớng giải quyết, các cơ quan Nhà nớc chỉ hỗ trợ giúp
đỡ và tháo gỡ những vớng mắc giữa doanh nghiệp với ngời lao động.
*Đối với doanh nghiệp:
+ Phân loại lao động để xác định số lao động dôi d: Đối với số lao động
còn lại có nhiều hớng giải quyết nh: sử dụng sau khi đào tạo, đào tạo lại, hỗ trợ
chuyển sang ngành nghề mới.
+ Xác định nguồn vốn để giải quyết lao động dôi d hiện có tại doanh
nghiệp có thể lấy từ: quỹ hỗ trợ mất việc làm, quỹ trợ cấp thôi việc, quỹ đào tạo
của đơn vị
* Đối với Nhà nớc nên hạn chế hỗ trợ trực tiếp tăng cờng hỗ trợ gián tiếp.
+ Hỗ trợ trực tiếp: hỗ trợ một phần kinh phí cho doanh nghiệp có thể lấy
quỹ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nớc. Những hỗ trợ nên tập trung vào đào
tạo, dạy nghề cho ngời lao động, hỗ trợ trong thời gian mất việc.
+ Hỗ trợ gián tiếp: là hỗ trợ về cơ chế chính sách cho ngời lao động, tín
dụng, thuế sản xuất kinh doanh.
Việc đào tạo cho ngời lao động mang tính sách lợc, vừa mang tính chiến
lợc. Khi doanh nghiệp cổ phần hóa sau khi đi vào sản xuất ổn định thì cần mở
rộng quy mô sản xuất nên tuyển thêm lao động những lao động đó phải là lao
động có tay nghề cao đã qua đào tạo.
Nh vậy, những giải pháp nêu trên tuy cha phải là những giải pháp tốt nhất
nhng nên thực hiện tốt thì chúng sẽ đẩy nhanh đợc quá trình cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc, thuận lợi cho tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc ở
nớc ta hiện tại và trong tơng lai. Nhằm đáp ứng những nhu cầu tất yếu thay đổi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét