Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Kinh doanh xuất khẩu của công ty cổ phần XNK Nam Hà Nội

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
thế ở tất cả mặt hàng nào cũng có thể thu được lợi ích từ
việc buôn bán với nước khác.
Lý thuyết này được xây dựng trên một loạt các giả
thiết đã được dơn giải hoá như chỉ xét riêng hai nước sản
xuất hàng hoá, nhân tố duy nhất là lao động có thể tự do
trong nước nhưng không di chuyển giữa các nước; chi phí
sản xuất không đổi, công nghệ không đổi. Thương mại
hoàn toàn tự do.
Quy luật lợi thế so sánh phát biểu rằng mỗi quốc gia
thực hiện chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng mà
nước đó có lợi thế so sánh thì tăng sản lượng của tất cả các
mặt hàng sẽ tăng lên và nước đó sẽ sung túc hơn. Trong
trường hợp một nước kém hiệu quả hơn nước khác trong
việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì vẫn tồn tại cơ sở dẫn
đến chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi. Cụ thể quốc gia
thứ nhất sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có
mức bất lợi tuyệt đối nhỏ hơn và nhập khẩu các mặt hàng
có mức bất lợi tuyệt đối lớn hơn.
Để chứng minh lý thuyết lợi thế so sánh David Ricardo
đã đưa ra ví dụ chứng minh:
Cả hai nước cùng sản xuất hai mặt hàng với năng suất
lao động như sau:
Sản phẩm Anh Pháp
Một đơn vị
bông
20 (giờ) 30 (giờ)
Một đơn vị ngũ
cốc
40 (giờ) 45 (giờ
http://tailieutonghop.com
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Rõ ràng năng suất lao động của Anh ở cả 2 mặt hàng
đều cao hơn ở Pháp. Nhưng David Ricard cho rằng: nên
Anh chuyên môn hoá sản xuất bông, Pháp, chuyên môn hoá
sản xuất ngũ cốc bởi trao đổi cho nhau thông qua TMQT
thì cả hai nền kinh tế đều có lợi.
Thật vậy, nếu tính trên một giờ lao động thì:
- Nước Anh. 1/2 đơn vị bông là chi phí cơ hội cho 1
đơn vị ngũ cốc sản xuất thêm và ngược lại 2 đơn vị ngũ cốc
là chi phí cơ hội cho một đơn vị bông sản xuất thêm.
- Nước Pháp 3/4 đơn vị bông là chi phí cơ hội cho một
đơn vị ngũ cốc bông sản xuất thêm và ngược lại. 4/3 đơn vị
ngũ cốc là chi phí cơ hội cho một dơn vị bông sản xuất
thêm.
Như vậy Anh chuyên môn hoá vào sản xuất bông và
mua ngũ cốc của Pháp thay vì phải mất 2 đơn vị bông cho
một đơn vị ngũ cốc.
Ngược lại Pháp thay vì mất 3/2 đơn vị ngũ cốc để có 1
đơn vị bông thông qua buôn bán với Anh, Pháp chỉ mất 1/2
đơn vị ngũ cốc cho 1 đơn vị bông.
Lý thuyết của David Ricardo giải thích một nguyên
nhân quan trọng dẫn đến sự hình thành TMQT. Tuy nhiên
việc giải thích của ông vẫn còn nhiều vấn đề chưa thoả
đáng, chủ yếu dựa vào giá trị lao động và cho rằng nó là
yếu tố duy nhất.
http://tailieutonghop.com
6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Để giải thích hoạt động TMQT, các nhà kinh tế học
hiện đại cũng đã đưa ra nhiều lý thuyết có tính thuyết phục.
Đó là:
Lý thuyết về chiphí cơ hội: Theo lý thuyết này thì chi
phí của một mặt hàng là số lượng mặt hàng không phải cắt
giảm để có thể sản xuất thêm một đơn vị mặt hàng thứ
nhất. Một quốc gia được coi là có lợi thế so sánh một mặt
hàng nào đó nếu chi phí cơ hội để sản xuất ra mặt hàng này
tại quốc gia đó thấp hơn chi phí cơ hội để sản xuất ra mặt
hàng, đó là quốc gia khác. Lý thuyết này dùng để xem xét
quá trình sản xuất trao đổi và tiêu dùng giữa các quốc gia.
Ngoài ra cơ sở trên, cũng rất nhiều lý do khiến cho
TMQT tồn tại và phát triển như chuyên môn hoá sản xuất
quy mô lớn; sự khác nhau về sở thích và nhu cầu về một
loại hàng hoá của người tiêu dùng khác nhau ở các nước
khác nhau bên cạnh đó bản quyền sở hữu công nghiệp cũng
là một nguyên nhân của TMQT. Ngoài ra còn có nguyên
tắc khác thuộc về tâm lý khách hàng và vai trò điều tiết của
chính phủ ở các quốc gia.
Ngày nay trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế sâu
rộng, KHKT ngày càng phát triển cao có thể chia các công
đoạn của quá trình sản xuất thảnh các khâu khác nhau và bố
trí ở những vị trí khác nhau thì không một quốc gia nào có
thể tách biệt với cộng đồng quốc tế.
2. Đặc trưng của hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Có các đặc trưng cơ bản sau đây:
http://tailieutonghop.com
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
- Kinh doanh XNK hàng hoá dịch vụ được thực hiện
bởi người mua và người bán mang quốc tịch khác nhau.
Hàng hoá và dịch vụ được di chuyển vượt ra khỏi biên giới
của một quốc gia.
- Đồng thiền thanh toán trong kinh doanh TMQT có
thể là đồng tiền của một trong các nước tham gia vào hoạt
động XNK hoặc có thể là đồng tiền của nước thứ ba, từng
theo sự thoả thuận giữa các bên. Đồng tiền thanh toán
thường có giá trị thanh toán cao hoặc ngoại tệ mạnh.
- Kinh doanh XNK khác nhau về quốc tịch khác các
chủ thể tham gia như là sự khác nhau về ngôn ngữ, văn
hóa Đặc biệt, xuất khẩu chịu ảnh hưởng rất lớn với luật
pháp của các chính phủ và yếu tố tự nhiên. Một số các yếu
tố khác cũng ảnh hưởng rất lớn như là chính trị , đời sống
kinh tế xã hội
3. Nội dung của hoạt động kinh doanh xuất khẩu
XNK hàng hoá dịch vụ là sự trao đổi hàng hoá dịch vụ
giữa các quốc gia thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi
này là hình thức của mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ
thuộc kinh tế giữa các nhà sản xuất hàng hoá riêng biệt của
các nước.
Kinh doanh là quá trình thực hiện một hoặc một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện một dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. Kinh doanh XNK là
việc đầu tư tiền của công sức để thực hiện hoạt động XNK
hàng hoá dịch vụ nhằm mục đích thu được lợi nhuận.
http://tailieutonghop.com
8
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Kinh doanh XNK là nội dung cơ bản của kinh doanh
TMQT. Hoạt động kinh doanh này thực hiện theo quy luật
cung cầu trên thị trường quốc tế.
4. Chức năng, nhiệm vụ của hoạt động kinh doanh
xuất khẩu.
a. Chức năng: là khâu quan trọng của quá trình tài sản
xuất xã hội, TMQT có chức năng sau:
- Tạo nguồn vốn cho quá trình đầu tư trong nước. Vốn
là một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Vì vậy
vốn là yếu tố quyết định. Xuất khẩu hàng hoá để thúc đẩy
sản xuất trong nước đồng thời thu được ngoại tệ nhằm tạo
vốn cho đầu tư.
- Chuyển hoá giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật
chất tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản
xuất trong nước.
- Góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế bằng việc
tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh trong
nước.
b. Nhiệm vụ:
Là ngành đảm nhận khâu lưu thông hàng hoá giữa
trong nước với nước ngoài nhằm thoả mãn nhu cầu trong
nước. Vì vậy nhiệm vụ là tổ chức quá trình lưu thông hàng
hóa với nước ngoài thông qua mua bán, trao đổi để làm cầu
nối hữu cơ giữa nền sản xuất trong nước, thị trường trong
nước với thị trường nước ngoài.
http://tailieutonghop.com
9
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Nhiệm vụ của TMQT phụ thuộc vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng giai đoạn, cũng như phụ thuộc vào bối cảnh
kinh tế, chính trị trên trường quốc tế. Mặt khác, TMQT
cũng phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của các quốc gia.
Nền kinh tế nước ta tồn tại những thành phần kinh tế
khác nhau. Sự vận động của các thành phần kinh tế trong
quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá đương nhiên sẽ diễn
ra sự cạnh tranh và sự hợp tác trong và ngoài nước. Điều
này đòi hỏi phải có hình thức tổ chức và quản lý, chính
sách phù hợp với sự phát triển của các công nghệ đó.
Xu thế chung của nền kinh tế thế giới cũng như tình
hình kinh tế khu vực và quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Việt Nam .
Nhằm thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước,
TMQT khả năng phải thực hiện các nhiệm vụ sau.
a) Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy CNH-
HĐH.
Khi tham gia vào thị trường thế giới, các nhà xuất khẩu
phải tuân thủ luật lệ, thông lệ kinh doanh quốc tế. Đồng
thời phải tính toán kỹ hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Kinh doanh xuất khẩu sẽ tham gia vào tháo gỡ các
vướng mắc ràng buộc của luật pháp trong nước nhằm làm
phù hợp luật pháp kinh doanh trong nước với kinh doanh
luật pháp kinh doanh quốc tế.
http://tailieutonghop.com
10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, TMQT có
nhiệm vụ, tìm kiếm nguồn lực cho kinh tế, thu hút công
nghệ thiết bị hiện dại và nguyên liệu mới cho nền sản xuất.
b) Đảm bảo thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong
hoạt động ngoại thương.
Trong kinh tế đội ngoại, kinh tế và chính trị có mối
quan hệ mật thiết không tách rời. TMQT là một bộ phận
quan trọng của kinh tế đối ngoại nên chịu sự tác động của
các hoàn cảnh chính trị .
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước thực hiện chủ trương
muốn là bạn với các nước trên thế giới không phân biệt chế
độ chính trị xã hội, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát
triển, tôn trọng lợi ích các bên. Trên cơ sở quan điểm đó
chúng ta ra sức phát triển TMQT, đặc biệt là xuất khẩu,
nhằm sử dụng nó như một công cụ thúc đẩy quan hệ với
các quốc gia khác.
c) Góp phần, giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội quan
trọng của đất nước: vốn, công nghệ, việc làm, và vấn đề sử
dụng tài nguyên của đất nước một cách có hiệu quả.
Xuất khẩu thu lợi nhuận nhằm tạo vấn đề mua sắm
công nghệ sản xuất, học tập
Vấn đề việc làm là một thách thức rất lớn đối với nước
ta hiện nay. Hàng năm có khoảng 1,2 - 1,5 triệu người bước
vào độ tuổi lao động. Chính yêu cầu về việc làm cho số lao
động này nên cần phải quan hệ kinh doanh quốc tế. Thông
qua kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp sẽ có khả năng
tìm kiếm được thị trường, đặt quan hệ làm ăn với các nước.
http://tailieutonghop.com
11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Từ đó, đầu tư vào sản xuất và kéo theo tạo thêm việc làm
cho lao động.
Hiện nay ở nước ta có nhiều nhóm hàng đang được
xuất khẩu dưới dạng thô nhưng cũng đóng vai trò rất lớn
cho nền kinh tế đất nước. Song xuất khẩu dưới dạng thô sẽ
không kinh tế và nhanh chóng làm cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên của đất nước. Vì vậy cần hạn chế xuất khẩu các sản
phẩm thô trong khả năng cho phép, khuyến khích xuất khẩu
thành phẩm. Vấn đề sử dụng tài nguyên hiệu quả cần kết
hợp nhiều yếu tố. Song chính sách xuất khẩu cần phải đảm
bảo được sự cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, giữa
xuất khẩu và yêu cầu sản xuất trong nước.
5. Vai trò của kinh doanh xuất khẩu: ở mỗi giai
đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội, tuỳ vào tình hình
kinh tế của đất nước mà vai trò của xuất khẩu có thể mạnh
ở vai trò này hoặc đặc biệt quan trọng trong vai trò khác.
Song tựu chung lại, xuất khẩu có các vai trò sau:
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu để
phục vụ nền sản xuất trong nước.
- Xuất khẩu đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển.
Xuất khẩu lấy thị trường thế giới làm thị trường của
mình, vì vậy quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm phải xuất
phát từ nhu cầu thị trường thế giới. Những ngành sản xuất
các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ được
phát triển.
http://tailieutonghop.com
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Sự tác động của xuất khẩu đến cơ cấu kinh tế có thể
được liệt kê như sau:
+ Xuất khẩu là điều kiện cho các ngành khác có cơ hội
phát triển thuận lợi.
+ Xuất khẩu tạo ra cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ
góp phần cho sản xuất phát triển ổn định.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp
đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong
nước.
+ Xuất khẩu hàng hoá sẽ tạo được khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
- Xuất khẩu tham gia giải quyết việc làm và cải thiện
đời sống nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại, giao lưu kinh tế - văn hóa với
các quốc gia khác trên thế giới.
II. CƠ SỞ CỦA XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA MARKETING
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU.
1. Cơ sở của xuất khẩu.
Lý tưởng nhất là Marketing xuất khẩu đều đem lại lợi
nhuận tiềm tàng cho tất cả các thành viên tham gia hoạt
động xuất khẩu và giảm tối đa thiệt hại có thể có đối với
họ. Trong buôn bán quốc tế, các tư nhân tham gia đều
thường thu được lợi nhuận cả khi mỗi tư cách là người bán
trực tiếp (người xuất khẩu) hoặc khi là người mua gián tiếp
http://tailieutonghop.com
13
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
(người nhập khẩu). Các doanh nghiệp nhà nước cũng có lợi
khi tham gia trao đổi quốc tế. Chính lợi ích thu được từ
TMQT quyết định sự tham gia của các nước vào quá trình
đó và lợi ích này được thể hiện ở vấn đề tiêu dùng và sản
xuất trong phạm vi nước đó. Trên thế giới không có một
nước nào có đủ tất cả các điều kiện để có thể thoả mãn một
cách có hiệu quả và kinh tế nhu cầu thường xuyên thay đổi
của nhân dân nước đó.
Rõ ràng rằng Marketing xuất khẩu có lợi ích quan
trọng của nó. Vì vậy, các quốc gia nói chung và các doanh
nghiệp nói riêng đều mong muốn thế lợi từ TMQT. Để có
được ngành nghề xuất khẩu đó, Marketing xuất khẩu phải
có cơ sở của nó. Cũng như cơ sở tồn tại của TMQT,
Marketing xuất khẩu tồn tại dựa trên cơ sở của lý thuyết lợi
thế so sánh (của David Ricardo) và các lý thuyết khác như:
lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết về nhân tố cân đối, lý
thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm, lý thuyết về tập tính
xuất khẩu
Một công ty khi tham gia vào thị trường quốc tế, vấn
đề đầu tiên là: nhu cầu thị trường, thị trường như thế nào?
hay bán cho ai? bán như thế nao? và hoạt động kinh doanh
trên thị trường đó như thế nào? Chính sự yêu cầu cần thiết
đó mà hoạt động Marketing vượt ra khỏi thị trường nội địa,
cùng với sự vận động của thị trường, Marketing xuất khẩu
trở thành một nội dung hoạt động thiết yếu đầu tiên của
công ty khi ra thị trường nước ngoài.
2. Vai trò của Marketing trong hoạt động kinh
doanh xuất khẩu.
http://tailieutonghop.com
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét